Ba Chúc: Nơi Pol Pot giết hại người Việt Nam

Các bạn có nghe nói tới vụ Thảm Sát ở Ba Chúc không? Đây là nơi quân đội Cộng Sản của Pol Pot đã thảm sát 3,157 người Việt Nam vào tháng 4 năm 1978. Ba Chúc là một thị trấn thuộc huyện Tri Tôn tỉnh An Giang, nằm cách biên giới Việt Nam-Campuchia khoảng 7 cây số. Lúc về thăm lại quê hương mấy năm trước, vợ chồng tôi có đến thăm viếng di tích lịch sử này, tưởng nhớ những người Việt Nam đã bị Pol Pot giết hại.

Pol Pot là lãnh tụ của Cộng Sản Campuchia, được thế giới biết đến là phe Khmer Đỏ. Ông chỉ cầm quyền vài năm, nhưng trong cuộc cách mạng theo kiểu Mao Trạch Đông, ông đã giết chết 1/4 dân tộc của ông, 1/2 số người Hoa ở Campuchia, và vô số người Việt Nam sanh sống ở nước nầy. Ông cũng cho quân đội vượt biên giới tàn sát người Việt, quan trọng nhất là ở Ba Chúc.

Ở đây trong suốt tuần lễ từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1978, quân Cộng Sản Pol Pot đã vượt biên giới giết hại đồng bào Việt Nam chúng ta. Cuộc thảm sát này còn được nhớ lại trong “Cụm di tích căm thù”, còn được biết đến với tên “Khu chứng tích tội ác diệt chủng Pôn Pốt” tại Ba Chúc.

Tại địa điểm nhà mồ tập thể này ngày nay còn giữ lại di tich tưởng niệm ngày đau thương này. Đó là 1,157 hài cốt của những nạn nhân cuộc thảm sát này của đảng Cộng sản Campuchia.

Lúc đó tôi đang sống tại New York, đang lặn hụp với cuộc sống mới, nên không theo dõi tình hình ở quê nhà. Về thăm lại quê hương, nhìn lại di tích số người bị thảm sát, đau buồn quá. Một giọt nước mắt muộn màng này cho quê hương Việt Nam. (Rất tiếc tôi thăm viếng Hà Nội hai lần, tham quan nhiều nơi, nhưng chưa lần nào được viếng di tích cuộc chiến năm 1979 với Trung Quốc, họ tràn qua biên giới giết không biết bao nhiêu người Việt Nam ở đây. Nghe nói Cộng Sản Việt Nam muốn quên cuộc chiến này, và những liệt sĩ đã hy sinh bảo vệ đất nước năm đó.)

“Phần lớn nạn nhân bị sát hại vào ngày 18 tháng 4, khi một toán quân Khmer xâm nhập dồn hết dân làng vào các ngôi chùa và trường học rồi thảm sát. Những người sống sót trốn được vào núi Tượng, tuy nhiên họ bị phát hiện ra vài ngày sau. Phần lớn nạn nhân bị bắn, chém, chặt đầu. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp, bị đóng cọc vào chỗ kín, trẻ em thì bị đâm lê trước khi giết chết.” (Wikipedia).

Ba Chúc cách biên giới Việt-Campuchia khoảng 7 cây số. Trong đoàn du lịch có một cựu sĩ quan của miền Nam trước đây. Ông giận lắm. Ông nói: Suốt tuần lể đau thương này, không biết quân đội Việt Nam ở đâu, để sự việc này xảy ra. Thời Việt Nam Cộng Hòa Campuchia không bao giờ làm được việc này. Việt Nam không bao giờ cho phép họ làm chuyện này.

Hướng dẫn viên du lịch giải thích lúc đó quân đội Việt Nam đang bận rộn đối phó với Trung Quốc ở biên giới Việt-Trung miền Bắc. Không biết lời giải thích lịch sử này đúng không, vì lúc đó là tháng 4 năm 1978. Chiến tranh biên giới với Trung Quốc xảy ra vào năm 1979.

Sau này khi nước Việt Nam thực sự độc lập và tự do, trí thức có quyền suy nghĩ đứng đắn, có quyền tìm hiểu sự thật, hy vọng Lịch Sử sẽ rọi ánh sáng nhiều vấn đề, cho tới nay vẫn còn mù mờ, về tương quan giữa Cộng Sản Pol Pot và Cộng Sản Việt Nam, cũng như tương quan giữa đảng Cộng Sản này và đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Giấc mơ các đảng Cộng Sản trên thế giới là anh em với nhau, giấc mơ những người vô sản thế giới là anh em với nhau, cho tới nay chỉ là giấc mơ, không hiện thực. Không đúng ở Đế Quốc Nga và những nước nhỏ láng giềng như Ba Lan, Ukraine v.v.., cũng không đúng ở Đế Quốc Tàu với các nước nhỏ như Tây Tạng, Mông Cổ v.v.., lại càng không đúng với Đế Quốc Việt Nam và các nước đàn Em. (Sẽ bổ túc sau)

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Huế: Hình ảnh Lăng Tự Đức

Lăng Vua Tự Đức (Tự Đức Tomb) là một trong những lăng mộ đẹp nhất của các Vua triều Nguyễn. Lăng này được xây dựng từ năm 1864 đến năm 1867. Lúc mới xây lăng này có tên Vạn Niên Cơ. Sau khi dân chúng nổi loạn vì bị bắt buộc phải đóng góp xây lăng tốn kém (Loạn Chày Vôi), Vua Tự Đức đã đổi tên lăng là Khiêm Cung. Sau khi Vua băng hà được chôn cất ở đây, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng Tự Đức là một trong những kiến trúc lịch sử ở Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Vua Tự Đức còn được biết đến với tên Nguyễn Dực Tông. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, và còn được biết đến với tên Nguyễn Phúc Thì. Ông là vị Hoàng Đế thú 4 của nhà Nguyễn, trị vì lâu nhất từ năm 1847 đến năm 1883. Lúc đó nước nhà đang gặp nhiều khó khăn, nên Vua đã xây lăng này như một hoàng cung thứ hai. Vua thường đến đây tiêu khiển giải sầu.

Khi Tây Phuơng đến đây muốn giao thương thương mại, khác với Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật, mở rộng cửa đất nước giao thương, và cải cách canh tân xứ sở, ông đã bảo thủ đóng cửa chống đối, không chịu canh tân đổi mới, cải cách. Ngược lại ông còn mời Tàu sang giúp đỡ, nên thời của ông, đất nước lâm vào chiến tranh, dẫn đến mất nước.

Ba năm sau khi ông lên ngôi, vào năm 1850 tàu của Hoa Kỳ đến Đà Nẵng, trình quốc thư xin giao thương. Ông không thèm tiếp thư. Có lúc tôi tự hỏi nếu lúc đó ông mở cửa giao thương với Mỹ, Pháp có dám chiếm Việt Nam không, và Việt Nam ngày nay ra sao, có nằm trong vòng tay của Tàu không, biển Đông có dậy sóng như ngày nay không?

Từ năm 1855 đến năm 1877 nhiều nước Tây Phuơng khác cũng đến Đà Nẵng, cửa Thị Nại và Quảng Yên xin giao thương, nhưng không kết quả. Đó là nước Anh, Tây Ban Nha và Pháp. Đặc biệt nước Pháp quyết tâm chiếm đóng Việt Nam, nên đã đưa quân đến đánh.

Quân đội Việt Nam anh dũng nhưng súng ống thô thiển, chiến thuật chiến lược cổ truyền xưa cũ, không địch nổi với Pháp. Lúc đó ông mới chịu nói chuyện giao thương với Tây Phương. Tới lúc đó những người được ông cử nói chuyện với Pháp không hiểu gì về ngoại giao, nên không thay đổi được tình thế. Kết quả của triều đại Tự Đức là gì, các bạn đã rõ.

Vua Tự Đức là một nhà thơ có tâm hồn nghệ sĩ nên kiến trúc của lăng mộ này vì thế rất đẹp và thơ mộng. (Sẽ bổ túc sau).

“Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Lối đi lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần là khu điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Đầu tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn – một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm. Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách… Ba cây cầu Tuần Khiêm\PTiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn đến đồi thông.

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường – nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm ViệnroDung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua.

Sau khu vực tẩm điện là khu lăng mộ. Ngay sau Bái Đình với hai hàng tượng quan viên văn võ là Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh Hóa nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung Ký” do chính Tự Đức soạn. Tuy có đến 103 bà vợ nhưng Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh đức thần công” trong các lăng khác. Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công và nhận tội của Tự Đức trước lịch sử. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội.” (Wikipedia)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hà Nội: Đường Cổ Ngư xưa?

Đường Cổ Ngư chạy giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch rất đẹp. Đường rộng lớn với 5 hàng cây xanh bóng mát, cảnh vật Hà Nội thật tuyệt vời. Đến Hà Nội kỷ niệm 50 năm ngày cưới, vợ chồng tôi đã lang thang trên con đường Cổ Ngư một buổi sáng mùa đông, lòng thấy rộn ràng nhớ lại một bài ca xưa, nhắc lại tên con đường Cổ Ngư này, bây giờ tên là Thanh Niên.

“Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa
Cái rét đầu đông khăn em bay hiu hiu gió lạnh
Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp
Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…”

Đường Cổ Ngư (bây giờ là Thanh Niên) thời xa xưa tên Cổ Ngự, có nghĩa giữ cho vững, dần dà người ta đọc sai thành Cổ Ngư. Tại sao giữ cho vững? Thế kỷ 17 người dân đánh cá vùng này đã đắp con đường này để khỏi đi vòng. Sóng vỗ đường này bị sạt lỡ, nên phải lấp lại thường xuyên, do đó có tên giữ cho vững (Cổ Ngự). Tôi không rành lịch sử Hà Nội, chỉ nghe kể lại như thế.

Đường Cổ Ngư dài 992 thước, phân cách bởi một hàng cây xanh ở chính giữa, hai bên đường là những hàng phượng, liễu, bằng lăng, sửa v.v…, mùa nào thì thắm sắc hoa ấy.

Hồ Tây là hồ lớn và đẹp nhất Hà Nội, mỗi sáng sương mù che khuất hồ nên được dân Hà Nội đặt tên Dâm Đầm hay đầm mù sương. Hồ này còn được biết đến với tên hồ Xác Cáo, hồ Trâu Vàng. Thế kỷ 11 người ta gọi nó là Dâm Đầm (Đầm mù sương). Từ thế kỷ XV trở đi nó có tên Tây Hồ.

Hồ Trúc Bạch nhỏ hơn nhưng đẹp không kém. Một phi công Mỹ rất nổi tiếng sau này ứng cử Tổng Thống Mỹ đã rơi máy bay tại đây, nên cả thế giới đều biết tới tên hồ này. Thời xa xưa ở một góc hồ này có cung của Chúa Trịnh Doanh, sau này được dùng làm nơi an trí của các cung nữ bị tội, hoặc về già.

Các bạn có biết tại sao gọi tên hồ này là hồ Trúc Bạch không? Ngày xưa ở đây các cung nữ về già hoặc bị tội đến sống, ở làng Trúc. Họ trồng dâu chăn tầm và tự dệt lụa. Lụa họ dệt rất đẹp, mềm và trắng. Từ đó người ta đặt tên hồ này là hồ Trúc Bạch. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sài Gòn: Chùa Một Cột

Các bạn biết nhiều về chùa Một Cột ở Hà Nội. Các bạn biết gì về chùa Một Cột ở Sài Gòn? Chùa Một Cột ở Sài Gòn được xây bằng bê tông cốt sắt rất chắc, khác với chùa Một Cột ở Hà Nội được xây bằng gỗ lim. Chùa ở Hà Nội xưa cũ. Chùa ở Sài Gòn vừa được xây vào năm 1958. Chùa Một Cột Sài Gòn còn được biết đến với tên Nam Thiên Nhất Trụ.

Chùa Một Cột Phuơng Nam nằm ở quận Thủ Đức thành phố Sài Gòn. Chùa nằm trong hồ Long Nhãn diện tích 600 m2, với thuyền bát nhả, hoa sen màu hồng rất đẹp, và cá chép lội nhởn nhơ trong hồ, thơ mộng và yên bình lắm.

Khuôn viên của chùa Một Cột Sài Gòn rất lớn, lớn hơn ở Hà Nội nhiều. Ở đây chùa này nằm trong khuôn viên rộng hơn 1 ha, với nhiều tượng lớn như: tượng đức Phật Di-Đà, đức Phật Thích-Ca, đức Phật Di-Lặc, tượng Bồ-Tát Quan Âm V.V…

Chùa Một Cột Thủ Đức là một bản sao trung thành của chùa Một Cột Hà Nội. Chùa được Hòa Thượng Thích Trí Dũng, sanh tại Nam Định và một đệ tử tên Đỗ Thị Vinh tạo lập nên vào năm 1958.

Sài Gòn của tôi nổi tiếng là thành phố cởi mở, chấp nhận văn hóa và cư dân 3 miền đến đây sống cuộc đời khá hơn, cành lành chim đậu. Sau 43 năm Hà Nội giải phóng (?) miền Nam, không biết Hà Nội có được truyền thống này không, cởi mở dang tay chấp nhận văn hóa và cư dân 3 miền như Sài Gòn? (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Lạt: Làng Cà Phê Chồn

Mấy năm trước du lịch Đà Lạt, vợ chồng tôi đã lấy tour tham quan ngoại thành Đà Lạt trong một ngày. Dịp này chúng tôi đã ghé tham quan một làng cà phê Chồn, và nếm thử cà phê ở đây, ngon tuyệt vời. Loại cà phê chúng tôi uống thử hôm đó là Cà Phê Mocha Chồn.

Cây cà phê Mocha chỉ trồng được ở những nơi cao khoảng 1,500 thước (m) trên mực nước biển. Do đó chỉ ở Đà Lạt người ta mới trồng được loại cà phê nầy. Tại sao Mocha Chồn? Theo lịch sử trồng cà phê, loại cà phê Chồn tên Weasel Coffee, rất mắc được tìm thấy ở Indonesia đầu tiên. Cà Phê này còn được biết đến với tên Kopi Luwak.

Cà Phê Chồn được người Âu Châu phát hiện cách đây cả trăm năm ở các đảo Java và Suwalesi của Indonesia. Chồn thích ăn trái cà phê. Nó luôn luôn chọn trái nào chín và ngon nhất để ăn. Trong quá trình tiêu hóa, hột cà phê thấm nhiều dung dịch tự nhiên làm nó trở thành rất ngon. Người ta lấy hột cà phê, rửa sạch, và rang uống thơm ngon lắm.

Trang trại chúng tôi thăm viếng có nuôi mấy trăm con chồn, để cho chúng ăn cà phê mocha trồng ở đây, và tạo ra cà phê Chồn thứ thiệt. Đoàn du khách được xem cà phê Mocha trên cây, được giải thích về loại Chồn nuôi ở đây, quan sát hột cà phê lấy từ phân Chồn, và sau cùng được uống thử cà phê Mocha Chồn sản xuất ở đây. Ngon tuyệt vời.

Trong tour du lịch nầy, chúng tôi đi Lâm Hà cách Đà Lạt vài chục cây số. Các bạn biết Lâm Hà nghĩa là gì không? Lâm là Lâm Đồng, và Hà là Hà Nội. Tại sao Hà Nội? Vào năm 1976 Phe Chiến Thắng (Chánh quyền Việt Nam) đã tổ chức cho cán bộ và nhân dân ở các huyện ngoại thành Hà Nội và một số huyện của tỉnh Hà Tây ngày nay, vào xây dựng vùng kinh tế mới ở Nam Ban và Lán Tranh.

Ngày 28 tháng 10 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng (tức là chánh phủ) nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định thành lập huyện mới Lâm Hà, trên cơ sở sát nhập vùng kinh tế mới của Hà Nội ở Nam Ban, Lán Tranh thuộc huyện Đức Trọng với 5 xã khác của huyện Đức Trọng. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hà Nội: Chùa Một Cột

Chùa Một Cột (The One Pillar Pagoda) là một ngôi chùa Phật Giáo có tánh cách lịch sử nằm trong lòng thủ đô Hà Nội. Nó được Vua Lý Thái Tông xây cất năm 1049. Nó còn được biết đến với tên Chùa Mật (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一柱塔), Diên Hựu tự (延祐寺) hoặc Liên Hoa Đài (蓮花臺, “đài hoa sen”).

Mấy năm trước vợ chồng tôi thăm viếng miền Bắc, và có ghé ngang qua đây. Cùng với Chùa Hương (Perfume Temple), đây là hai trong số những ngôi chùa độc đáo nhất có tánh cách tiêu biểu của nước Việt Nam.

Tương truyền ngày xưa Vua Lý Thái Tông (1028-1054) không có con trai nối dõi. Một đêm Vua nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen bồng một đứa bé trai trao cho ông. Ông cưới một cô gái nông dân và sanh được một đứa con trai.

Để tỏ lòng nhớ ơn đối với Phật Quan Âm, Vua cho xây một ngôi chùa tại nơi trong mộng Vua gặp Bà. Chùa này nằm trên một cột, giống như trong mộng Vua thấy Bà ngồi trên tòa sen. Đó là Chùa Một Cột nguyên thủy. Vua đặt tên chùa này là Diên Hựu Tự, có nghĩa là “Phúc lành dài lâu” hay “Phước bền dài lâu”.

Ngày khai mạc Chùa, Vua đến đây làm lẽ tắm Phật. Lễ này được các nhà sư và nhân dân thành Thăng Long tham dự. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh. Vua thả một con chim cho tự do bay lên trời. Nhân dân reo mừng và cũng thả chim bay tự do. Suốt triều đại của nhà Lý, lễ này được lập lại hàng năm nhân ngày Phật Đản.

Năm 1105 Vua Lý Nhân Tông cho sửa Chùa, và đúc một cái chuông khổng lồ tên “Giác thế chung” (Chuông thức tỉnh người đời). Chuông nặng quá không dựng lên được, nên không sử dụng được. Người ta phải để chuông trong ruộng gần đó. Ruộng này có nhiều rùa nên chuông được gọi là Quy Điền Chuông (Chuông ruộng rùa). Chuông này là một trong 4 công trình lớn của nước Việt Nam thời đó, là: tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm.

Đầu thế kỷ 15 nhà Minh bên tàu xâm chiếm Việt Nam. Năm 1426 người chiến sĩ sau này trở thành Vua Lê Lợi đã đánh đuổi giặc Tàu. Trước khi rút lui, quân Tàu thiếu thốn khí giới đã phá hủy chuông Quy Điền để đúc khí giới. Đó là lý do chuông này không còn nữa.

Năm 1954 quân đội Pháp trước khi rút khỏi Hà Nội đã phá hủy chùa này. Chùa hiện nay được xây dựng lại dựa vào bảng vẻ của chùa Cổ. Mặc dầu không phải là Chùa nguyên thủy, nhưng chùa Một Cột ngày nay vẫn mang nhiều tánh cách lịch sử biểu tượng.

Đây là một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Ngoài Hà Nội, ở Saigon và thủ đô Moscow cũng có một bản sao chùa nầy. Chùa Một Cột ở Saigon được xây ở quận Thủ Đức cuối những năm 1950 đầu những năm 1960. Hình chùa này được đút ở mặt sau đồng tiền kim loại 5000 đồng của Việt Nam.

Năm 2010 Hà Nội và nước Việt Nam ăn mừng Thăng Long được 1,000 tuổi. Xin chia sẻ với các bạn một vài hình ảnh chùa Một Cột, được sách Guinness Việt Nam ghi nhận là “Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam”. Lịch sử chùa Một Cột gắn liền với lịch sử thành Thăng Long và Hà Nội hơn 900 năm nay. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Lạt: Chùa Linh Ẩn

Chùa Linh Ẩn (Linh Ẩn Tự) còn được biết đến với tên Thiền Viện Trúc Lâm thứ hai của Đà Lạt. Chùa nằm ở thị trấn Nam Ban huyện Lâm Hà. Lâm Hà là chữ ghép hai từ Lâm (là Lâm Đồng) và Hà (là Hà Nội). Huyện này có nhiều người Hà Nội đến đây lập nghiệp. Năm 1993 chùa này chỉ là một niệm phật đường. Năm 1999 chùa biến thành Linh Ẩn Tự.

Chùa do Thượng Tọa Thích Tâm Vị trụ trì. Ông là trụ trị của chùa Ve chai (hay chùa Linh Phước), với kiến trúc rất độc đáo. Chánh điện chùa Linh Ẩn rất rộng, diện tích khoảng 1,400 m2, lợp ngói đỏ rất đẹp.

Chùa Linh Ẩn có nhiều công trình ấn tượng. Tại chánh điện có 5 bức tượng cao 7,5 thước (m) được đúc bằng xi măng của Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Phật Dược Sư, Chuẩn Đề và Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.

Trong khuôn viên Chùa có Tượng Phật Di Lặc ở đây rất vĩ đại, cao 12.5 thước (m), rộng 6.5 thước (m) ngang 9 thước (m), chiếm 630 m2 không gian. Bên trong bụng của Phật Di Lặc được chia làm 3 tầng làm nơi để trưng bày và để các chúng Tăng hội họp. Sau lưng tượng là ngôi nhà rất rộng có 15 gian là nơi sinh hoạt và nghỉ ngơi của các Phật Tử.

Chùa nằm gần Thác Voi nước chảy ầm ầm quanh năm, không khí mát mẻ dễ chịu. Vợ chồng tôi lấy tour thăm viếng ngoại thành Đà Lạt, thăm viếng nhiều Làng nổi tiếng, như Cà Phê Mocha Chồn, Làng Dế, Làng nấu rượu, Làng Dệt Lụa tơ tằm v.v.. , sau cùng đến chùa nầy, và Thác Voi bên cạnh..

Muốn thăm viếng vùng Lâm Hà này, chúng tôi phải đi trên con đường ở Đà Lạt nổi tiếng là “con đường tơ lụa”. Đó là đường đèo Tà Nung trên núi Langbiang. Đường nầy dài 25 cây số nối liền trung tâm thành phố Đà Lạt và huyện Lâm Hà ở ngoại thành. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sài Gòn: Chùa Bửu Long

Chùa Bửu Long nằm ở quận 9 thành phố Sài Gòn, trên một ngọn đồi ngó xuống sông Đồng Nai, rất đẹp và thơ mộng. Chùa rộng 11 ha, cách trung tâm thành phố khoảng 20 cây số (km). Đây là một trong những ngôi chùa đẹp và xưa cũ nhất Sài Gòn. Chùa nguyên thủy được xây cất vào năm 1942.

Chùa hiện nay được trùng tu và xây dựng thêm từ năm 2007. Mặc dầu được sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên tôi biết đến chùa này, và đến đây thăm viếng. Cảm ơn hai Em cựu Giáo Sinh Sư Phạm Sài Gòn khóa 6 Đinh-Hường, đã hướng dẫn chúng tôi tìm hiểu nhiều hơn về quê hương Việt Nam.

Chùa Bửu Long do cư sĩ Vỏ Hà Thuật thành lập năm 1942. Lúc đó chùa chỉ là một tịnh thất. Chùa thuộc Hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Nam tông). Năm 1958, ông dâng cúng chùa nầy cho thiền sư Hộ Tông, vị Tăng thống đầu tiên của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, lập thành thiền viện Bửu Long và ông xuất gia với pháp danh Lão Tâm.

Theo Website “Giác Ngộ Online”, “Chùa Bửu Long được xây dựng theo nét kiến trúc các chùa ở Đông Nam Á như Thái Lan, Ấn Độ… kết hợp cùng nét kiến trúc các chùa thời Nguyễn – tạo cho chùa Bửu Long có vẻ đẹp rất riêng và độc đáo.

Năm 1961, ngài Narada Mahàthera, Đức Tăng thống Phật giáo Sri Lanka tặng thiền viện một cây bồ-đề chiết từ cây mẹ tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ), được đem trồng trong khuôn viên chùa, nay đã được tôn tạo thành Bồ-đề Phật cảnh.

Kiến trúc chùa theo văn hóa Phật giáo cổ đại và liên tục được trùng tu tôn tạo gồm chánh điện, Tăng xá, trai đường, khách đường, tổ đường, thiền thất của chư Tăng, Ni viện, Ni xá và am thất của Tu nữ, tịnh nhân.

Ngoài ra còn có một động khổ hạnh tưởng niệm 6 năm Bồ-tát Tất-đạt-đa tu khổ hạnh và một tượng Phật nằm (tạc từ đá granite dài 8m, nặng trên 50 tấn), xung quanh trang trí 10 trụ đèn cũng bằng đá granite, điêu khắc theo mẫu trụ đá vua Asoka (A Dục) tại các Phật tích Ấn Độ.

Chính điện ngày nay được trùng tu từ di tích cũ – nơi Tổ sư và Đại đức Lão Tâm để lại, chủ yếu là tôn tạo cho khang trang và tiện nghi hơn, nhưng vẫn giữ lại hình dáng như cũ, chỉ thêm phần tiền đường và một vài chi tiết phối hợp giữa kiến trúc Phật giáo Đông Nam Á với kiến trúc triều đại nhà Nguyễn.” (Giác Ngộ Online)

Theo Website “24h (24 Giờ)”, “Đặc biệt, chùa Bửu Long có bảo tháp Gotama Cetiya thờ xá lợi Đức Phật và Chư Thánh Tăng, rộng trên 2.000 mét vuông, cao 70m, một kiến trúc vừa hoành tráng hiện đại vừa biểu hiện nét cổ kính nhất của nền văn minh Suvannabhumi cổ đại trong vùng Đông Nam Á.

Bảo tháp có quy mô lớn nhất Việt Nam, cao ba tầng với chiều cao 56 mét và bốn tháp xung quang với tên gọi: tháp Đản Sinh, tháp Thành Đạo, tháp Pháp Luân, tháp Niết Bàn. Tháp có tổng sức chứa trên 2.000 người cùng vào tham quan chiêm bái xá lợi Phật.” (24h) (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bạc Liêu: Thăm nhà Công Tử Bạc Liêu

Nghe danh Công Tử Bạc Liêu rất lâu, vừa rồi vợ chồng tôi có dip đến thăm nhà của Ông ở Bạc Liêu, và được nghe thuyết trình về cuộc đời và những cái ngông, xài tiền như nước của Ông.

Ông tên Trần Trình Huy con trai thứ 3 của Hội đồng Trần Trinh Trạch. Ông còn được biết đến với những biệt danh cậu Ba, Công Tử Bạc Liêu, và Hắc Công Tử. Ba của Ông có 7 người con, 4 gái và 3 trai, nhưng Ông được yêu thương nhất. Ba của Ông làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng. Ông xài tiền làm nên tiếng tâm của Công Tử Bạc Liêu.

Những giai thoại về cuộc đời của Ông nhiều vô số kể, được cả nước biết đến. Ngày xưa tiếng tâm của Ông chỉ vang lừng ở miền Nam lục tỉnh biết. Ngày nay cả nước biết đến Ông. Nhà của Ông là một di tích lịch sử.

Các bạn có nghe nói chuyện nầy lần nào chưa? Công tử Bạc Liêu đi Tây du học trở về, không đậu cử nhân hay tiến sĩ, chỉ đậu 3 bằng cấp sau đây: lái máy bay, lái xe hơi, và nhảy đầm. Ông là tiền thân của mấy công từ ngày nay đi Mỹ du học, đậu bằng Master (Thạc Sĩ). Master gì? Master Card. Master Card là loại thẻ tín dụng rất phổ biến. Ở Mỹ người ta không mang theo tiền mặt, chỉ xài thẻ tín dụng mà thôi. Đây là cách người ta khôi hài mấy công tử ngày nay, chỉ dùng tiền tham nhũng của cha mẹ qua Mỹ ăn xài phung phí, không học được chữ nghĩa nào.

Vua Bảo Đại mua chiếc xe hơi đầu tiên, công tử Bạc Liêu là người thứ nhì nước Việt Nam mua xe. Vua Bảo Đại vừa mua máy bay đầu tiên ở Việt Nam. Công tử Bạc Liêu là người thứ hai. Vua Bảo Đại có nhiều vợ, nhưng không có vợ làm hoa hậu. Công tử Bạc Liêu là người đầu tiên tổ chức thi Hoa Hậu ở Việt Nam, với giải thưởng lớn, được báo chí nhắc tới. Người thắng hoa hậu lần đó được Ông cưới làm vợ. Những Ả Hậu được Ông theo đuổi, tuần tự làm người tình của Ông.

Các bạn có nghe nói tới giường của công tử Bạc Liêu, giá 7 tỷ đồng ngày nay? Sau cuộc bể dâu, tài sản của Ông bàn giao hết cho Cộng Sản năm 1975 (Phe Thắng Cuộc), thời Đổi Mới người ta đã tìm mua lại giường nầy để trưng bày cho công chúng xem. Đây là giường công tử nằm những ngày nóng nực. Giường mát tự nhiên, và có hương đuổi muỗi không đến gần.

Công Tử Bạc Liêu chết năm 1973, may mắn tránh khỏi bị đấu tố và giết chết như bao nhiêu nhà giàu khác. Gia tài của cải của Ông được giao cho chánh quyền Cộng Sản năm 1975. Con của Ông hiện đang sống lây lất với nghề chạy xe Honđa ôm. Tôi sẽ viết nhiều hơn. Ngày mai tôi phải lên đường du lịch miền Trung, không có thời giờ viết nhiều. Hẹn sẽ viết nhiều hơn. (Sẽ bổ túc sau).

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bạc Liêu: Chùa Quan Âm Nam Hải

Chùa này rất nổi tiếng ở Bạc Liêu. Chùa thờ Phật Bà Quan Âm. Tượng Phật Bà Quan Âm còn được biết đến với tên Quan Âm Nam Hải, Mẹ Nam Hải, hay Mẹ Nam Hải Bạc Liêu. Tượng này được xây dựng năm 1973, một năm trước sự kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa của Việt Nam bằng vỏ lực, hai năm trước phong trào vượt biên sau năm 1975, gây xúc động dư luận thế giới.

Năm 1973 người ta đã xây tượng Quan Âm Nam Hải (Mẹ Nam Hải), cao 11 thước đứng giữa vùng ven biển ngập nước, ngó ra biển Đông, chúc phúc và trợ giúp những người Việt Nam đi biển ở đây, phần lớn là ngư dân. Phong trào vượt biên bằng đường biển ở đây đã chấm dứt từ lâu.

Lúc chúng tôi đến đây thăm viếng, hiện tượng đất bồi làm cho tượng Phật này nằm trong đất liền, trong khuôn viên rộng hơn 25,000 thước vuông (m2). Mỗi tháng Giêng người ta tổ chức lễ Vía Phật Bà ở đây trong 3 ngày, vui lắm. Lễ hội nầy diễn ra từ mồng 8 đến 11 âm lịch, với nhiều nghi lễ như: lễ cầu quốc thái dân an, phật tử dâng hương cầu an, tế anh hùng tử sĩ, thỉnh thánh, thuyết pháp v.v.. Đêm đêm có chương trình văn nghệ và hát bội, hay lắm

Trang web Savi Tour kể lại sự tích của Phật Bà Quan Âm như sau: “Quán Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v…

Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.

Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhựt Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v…” (Savi Tour)

Vừa rồi lúc chúng tôi đến đây tham quan, ngoài tượng Phật Bà cao 11 thước, còn vài chục tượng Phật Bà khác rất đẹp, được xếp đặt trong công viên rộng lớn. Một người nào đó nói, lạc vô đây như lạc vào một mê cung nhiều tượng Phật Bà, moi tượng đẹp một vẻ riêng biệt, hay lắm. (Sẽ bổ túc sau).

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?