Đà Nẵng: Một buổi sáng trên bờ sông Hàn

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.653217601457192.1073741986.491938480918439&type=3&uploaded=21

Mấy năm trước, tôi và người tình trăm năm đã về Việt Nam lấy tour đi du lịch khắp nước, đi, thấy và hiểu quê hương mình hơn. Năm 2009, vợ chồng tôi lại trở về. Mỗi lần về mỗi lần khác. Quê hương Việt Nam đổi mới và chuyển mình phát triển mau lẹ quá.

Những ngày trước Giáng sinh năm 2009, tôi và người tình trăm năm đã đến Đà Nẵng kỷ niệm 50 năm ngày cưới. Một buổi sáng đẹp trời mùa đông, khí hậu mát mẽ dể chịu, vợ chồng tôi đi lang thang trên bò sông Hàn, ngắm nhìn cảnh vật bao quanh. Thấy cảnh vật hữu tình, tôi chụp một vài hình ảnh chia sẻ với các bạn.

Đà Nẵng là một trong 3 cảng lớn nhất của nước Việt Nam, hai cảng kia là Sài Gòn ở miền Nam, và Hải Phòng ở miền Bắc. Đây là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất nước, hai trung tâm kia là Sài Gòn và Hà Nội.

Đà Nẵng nằm cách các Di Sản Thế Giới được UNESCO nhìn nhận khoảng 100 cây số, nên muốn viếng thăm các di sản nầy, đoàn du khách chúng tôi phải bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, và ở lại đây nhiều ngày để tham quan Huế, Hội An, Mỹ Sơn và động Phong Nha-Kẻ Bàng.

Khách sạn nơi tôi ở nằm bên dòng sông Hàn, gần cầu sông Hàn, cầu quây duy nhất hiện nay tại Việt Nam. Đặc biệt cầu này do các kỹ sư Việt Nam tự thiết kế và thi công. Cầu này là niềm hãnh diện của chánh quyền và nhân dân Đà Nẵng. Cầu được các kỹ sư Việt Nam thiết kế và xây dựng. Tiền xây cầu phần lớn do nhân dân Đà Nẵng đóng góp.

Sông Hàn còn được biết đến với tên Hàn Giang (Han River) là một dòng sông nằm ở phía Nam miền Trung. Nó bắt nguồn từ sông Hoài tỉnh Quảng Nam và đổ vô biển Đông ở Đà Nẵng. Cảng Đà Nẵng nằm ở cửa sông nầy dưới chân núi Sơn Trà.

Đà Nẵng có hai huyện, huyện nổi tiếng thế giới hiện nay là huyện Hoàng Sa, nổi tiếng thế giới vì sự tranh chấp chủ quyền hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam ở đây.

Trong entry trước tôi đã chia sẻ với các bạn một số hình ảnh chụp một góc Đà Nẵng, nhìn từ phòng khách sạn ở lầu 11, cảnh vật sông Hàn ban đêm và ban ngày rất đẹp. Đặc biệt trong một hình chụp ban ngày, các bạn có thể thấy cầu sông Hàn nổi tiếng ở xa xa.

Đà Nẵng: Một góc sông Hàn

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.653086681470284.1073741985.491938480918439&type=3&uploaded=16

Một buổi sáng mùa đông, trời Đà Nẵng trong xanh nắng ấm rất dễ chịu, tôi và người tình trăm năm đã thả bộ đi dọc bò sông Hàn, cuộc đời đáng sống lắm. Một buổi sáng tuyệt vời khó quên.

Đà Nẵng: Một buổi sáng trên bờ sông Hàn

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/da-nang-mot-buoi-sang-tren-bo-song-han/

Posted in Uncategorized | Tagged , | Để lại bình luận

Đà Nẵng: Một góc sông Hàn

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.653086681470284.1073741985.491938480918439&type=3&uploaded=16

Đà Nẵng là một trong 3 cảng lớn nhất của nước Việt Nam, hai cảng kia là Sài Gòn ở miền Nam, và Hải Phòng ở miền Bắc. Đây là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất nước, hai trung tâm kia là Sài Gòn và Hà Nội.

Thời Đại Việt, Đà Nẵng có tên Cửa Hàn. Trước khi người Việt Nam tới đây, người Chăm đặt tên vùng này là “DAKNAN”, nghĩa là vùng nước rộng lớn, hay “sông lớn”, “cửa sông cái”. Thời Pháp thuộc, nó được biết đến với tên Tourane (hay Turon).

Đà Nẵng nằm ngay quốc lộ 1A, trên đường xe lửa xuyên Việt Bắc-Nam nên trở thành một trung tâm giao thương, rất thuận lợi. Ngày nay ở đây có phi trường quốc tế, giúp nối liền thằng thành phố này với các phi trường quốc tế, không qua các phi trường Nội Bài hay Tân Sơn Nhất.

Đà Nẵng nằm cách các Di Sản Thế Giới được UNESCO nhìn nhận khoảng 100 cây số, nên muốn viếng thăm các di sản nầy, đoàn du khách chúng tôi phải bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, và ở lại đây nhiều ngày để tham quan Huế, Hội An, Mỹ Sơn và động Phong Nha-Kẻ Bàng.

Đà Nẵng “là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cửa ngõ chính ra biển Đông của các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê Kông.

Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích là 1285,4 km². Theo kết quả điều tra năm 2009 thì dân số thành phố là 887.435 người. Năm 2013, dân số thành phố là 992.800 người. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn năm 2012 là 46.368,6 tỷ đồng.

Trong ba năm liền từ 2008-2010, Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước. Tuy nhiên năm 2012, PCI của Đà Nẵng tụt xuống thứ 12/63 tỉnh, thành phố. Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng. Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là “thành phố đáng sống” của Việt Nam.” (Wikipedia)

Những ngày trước Giáng sinh năm 2009, tôi và người tình trăm năm đã đến Đà Nẵng kỷ niệm 50 năm ngày cưới. Khách sạn nơi tôi ở nằm bên dòng sông Hàn, gần cầu sông Hàn, cầu quây duy nhất hiện nay tại Việt Nam. Đặc biệt cầu này do các kỹ sư Việt Nam tự thiết kế và thi công.

Cầu này là niềm hãnh diện của chánh quyền và nhân dân Đà Nẵng. Cầu được các kỹ sư Việt Nam thiết kế và xây dựng. Tiền xây cầu phần lớn do nhân dân Đà Nẵng đóng góp.

Đà Nẵng có hai huyện, trong số đó huyện nổi tiếng thế giới hiện nay là huyện Hoàng Sa, nổi tiếng thế giới vì sự tranh chấp chủ quyền hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam ở đây.

Chắc các bạn còn nhớ trận hải chiến ở Hoàng Sa, các chiến sĩ Việt Nam đã bị Trung Quốc thảm sát. Hoàng Sa bị họ chiếm năm 1974. Lúc đó Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã ký một công hàm nổi tiếng ủng hộ Trung Quốc, bộ ngoại giao nước này còn dùng để biện minh họ có chủ quyền ở Biển Đông.

Xin chia sẻ với các bạn một số hình ảnh chụp một góc Đà Nẵng, nhìn từ phòng khách sạn ở lầu 11, cảnh vật sông Hàn ban đêm và ban ngày rất đẹp. Đặc biệt trong một hình chụp ban ngày, các bạn có thể thấy cầu sông Hàn nổi tiếng ở xa xa.

Một buổi sáng mùa đông, trời Đà Nẵng trong xanh nắng ấm rất dễ chịu, tôi và người tình trăm năm đã thả bộ đi dọc bò sông Hàn, cuộc đời đáng sống lắm. Một buổi sáng tuyệt vời khó quên.

Con đường di sản miền Trung (9): Một góc sông Hàn

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/da-nang-mot-goc-song-han/

Posted in Uncategorized | Tagged , | Để lại bình luận

Hà Nội: Khu di tích Phủ Chủ Tịch

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.652909634821322.1073741984.491938480918439&type=3&uploaded=24

Hai lần thăm viếng thủ đô Hà Nội, tôi muốn viếng thăm những di tích lịch sử ở đây. Tôi mơ ước trong đời được thăm viếng những địa điểm lịch sử nổi tiếng, làm tôi hãnh diện là người Việt Nam, như Đống Đa, Bạch Đằng Giang v.v..

Hai lần ra đó cả đoàn du khách được đưa tới thăm viếng xác cụ Hồ ở quảng trường Ba Đình, và di tích Phủ Chủ Tịch, nơi có nhà sàn của ông. Chưa lần nào tôi được viếng Hoàng Thành Thăng Long, hay những di tích lịch sử quan trọng và “Không-Cộng-Sản” khác.

Khu Di Tích Phủ Chủ Tịch (Presidential Palace Historical Site) nằm tại Hà Nội. Đây là nơi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng sống và làm việc từ ngày 19 tháng 12 năm 1954 đến ngày 2 tháng 9 năm 1969. Tên đầy đủ của khu này là “Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”. Khu này được chánh quyền xếp vào hàng 23 di tích lịch sử đặc biệt của quốc gia.

Khu này nằm ở Tây-Bắc Hoàng Thành Thăng Long xưa. Thời Pháp thuộc Hà Nội là thủ phủ của Đông Dương. Dinh của Toàn Quyền Đông Dương được xây ở đây. Thời Cộng Sản cai trị Việt Nam, đây là đầu não của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng sống và làm việc ở đây. Ông đã qua đời ở đây.

Sau khi ông qua đời, ai đến thăm viếng Hà Nội cũng được hướng dẫn đến thăm xác của ông tại quảng trường Ba Đình, và thăm viếng khu Phủ Chủ Tịch nầy. Vợ chồng tôi đi Hà Nội hai lần. Cả hai lần chúng tôi được hướng dẫn đi tham quan hai nơi này mà thôi. Do đó có lúc tôi tự hỏi không biết Hà Nội có gì hay ho hơn để giới thiệu với những người như tôi, không biết gì về nơi nầy, và muốn đến đây du lịch, tìm hiểu về văn hóa, đời sống, và lịch sử người dân ở đây?

Khu nầy rộng hơn 14 hecta. Ở đây có nhiều kiến trúc lâu từ 40 đến 100 năm. Nhà sàn của “Bác Hồ” hiện nay chỉ là một nhà sản được phục chế từ năm 1969 dựa vào kiểu mẫu của nhà sàn nguyên thủy. Họ đã gỡ nhà nguyên thủy đem cất trong kho, và dàn dựng nhà sàn này để cho du khách đến xem. Ông đã sống ở đây từ năm 1958 đến năm 1969.

Trong khu này có nhà gọi là Nhà 54. Nhà này được ông sử dụng từ năm 1954 đến năm 1958. Sau khi dọn về sống ở nhà sàn, ông vẫn thường đến đây ăn cơm, và vệ sinh cá nhân. Vợ chồng tôi cũng được hướng dẫn tản bộ trên “Đường Xoài” là đường ông thường đi bộ sau giờ làm việc, hoặc tập thể dục buổi sáng. “Ao cá Bác Hồ” ở đây rộng 3.320 m² và sâu 3 m. Lúc tôi đến trong ao có nhiều cá bơi lội, rất vui.

Muốn biết thêm chi tiết về cuộc đời và con người của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, mời đọc thêm bài:

Sài Gòn: Thành phố Hồ Chí Minh

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.652579391521013.1073741983.491938480918439&type=3&uploaded=10

Posted in Uncategorized | Tagged , | Để lại bình luận

Sài Gòn: Thành phố Hồ Chí Minh

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.652579391521013.1073741983.491938480918439&type=3&uploaded=10

Thành phố Sài Gòn bây giờ tên Hồ Chí Minh. Ông là ai? Hồ Chí Minh còn được biết đến với nhiều tên: Nguyễn Sinh Côn hay Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, và Nguyễn Ái Quốc. Đó là chưa kể nhưng bí danh như Thầu Chín, Tống Văn Sơ, Linow hay đồng chí Lin v.v…

Tôi có gắng đọc và tìm hiểu về Ông. Lý do đi đâu ở Việt Nam tôi cũng thấy tượng của ông. Đặc biệt khi về thăm lại thành phố Sài Gòn nơi tôi sanh, nay là thành phố Hồ Chí Minh. Những người thương ông gọi ông là Bác Hồ, Cụ Hồ. Những người ghét ông gọi ông là giặc Hồ. Bài này không muốn thương và ghét, chỉ cố gắng tìm hiểu sự thật về cuộc đời của ông mà thôi.

Cuộc đời của ông phức tạp, và nhiều sự kiên vẫn còn được tranh cãi. Những gì viết ở đây chỉ là những tạp ghi, sẽ được sửa chữa trong tương lai, khi Lịch Sử rọi ánh sáng nhiều hơn về ông. Hồ là họ rất thông thường ở Việt Nam, Chí là ý chí, Minh là sáng suốt. Hồ Chí Minh có phải là người họ Hồ có ý chí và sáng suốt?

Hồ Chí Minh là lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông sáng lập ra đảng nầy. Ông thuộc phong trào Cộng Sản Quốc Tế, đã từng hoạt động ở Pháp, Nga và Trung Quốc. Ông từng làm Thủ Tướng (1945-1955), và Chủ Tịch (1945-1969) của miền Bắc Việt Nam. Là một người Cộng Sản, lý tưởng của Ông giống như các lãnh tụ Cộng Sản khác là lật đổ chánh quyền bằng bạo lực, thiết lập chế độ độc tài vô sản, và thống nhất đất nước dưới chế độ Cộng Sản.

Hồ Chí Minh là một trong những người đặt nền tảng cho chế độ Cộng Sản ở miền Bắc sau năm 1945, đặt nền tảng tổ chức Quân Đội Bắc Việt (Quân đội Nhân dân Việt Nam), và Phong Trào Việt Cộng giải phóng miền Nam bằng vỏ lực.

Thời tranh đấu giành độc lập, ông thành công thủ tiêu nhiều người Việt Nam kháng chiến chống Pháp, để lãnh đạo phong trào Việt Minh. Ông thành công tuyên truyền cho quần chúng hiểu ông yêu nước nhiều hơn yêu Cộng Sản quốc tế, nên dân Việt Nam tin ông và ủng hộ đảng Cộng Sản của ông.

Nhờ đó ông chiếm được chánh quyền ở miền Bắc từ năm 1945, và thắng Pháp năm 1954 ở trận Điện Biên Phủ. Từ năm 1965 vì lý do sức khỏe, ông hưu trí, từ bỏ mọi quyền hành chánh thức. Mặc dầu vậy ông vẫn ảnh hưởng đến thời cuộc, trong bóng tối.

Sau khi Cộng Sản thành công chiếm Sài Gòn (giải phóng Sài Gòn), các đồ đệ của ông lấy tên Ông đặt cho thành phố này. Ngoài ra khắp miền Nam ngày nay, đi đâu cũng thấy tượng của Ông. Lúc đoàn du lịch chúng tôi đến thăm viếng Hà Nội, chúng tôi phải xếp hàng vô xem xác của Ông được trưng bày ở quảng trường Ba Đình. Di chúc của Ông muốn được chôn đàng hoàng không được đàn em của ông tôn trọng.

Thời trẻ tuổi Ông đi khắp nơi. Ông từng sống ở Pháp, Anh và Mỹ. Tại Mỹ ông từng sống ở thành phố New York nơi tôi đang sống. Ông sống ở quận Brooklyn, cách nhà tôi chừng 20 phút lái xe. Sau đó ông sống ở Boston.

Thời trung niên của Ông đáng nể hơn, vì lúc đó ông hoạt động cho phong trào Cộng Sản Quốc Tế ở Pháp, Nga và Trung Quốc. Năm 1920 ông là một đại biểu ở Đại Hội Đảng Xã Hội Pháp ở Tours. Tại đây ông biểu quyết ủng hộ Đệ Tam Quốc Tế.

Đệ Tam Quốc tế (Third International), còn gọi là Quốc tế cộng sản hay Comintern, là tổ chức của những người cộng sản, được thành lập vào tháng 03 năm 1919 ở Moscow. Ông là một trong những người đã sáng lập ra đảng Cộng Sản Pháp.

Năm 1922 Ông đến Nga lần đầu tiên tham gia Đại hội lần tư của Quốc tế Cộng sản. Ở đây ông gặp Lenin và trở thành thành viên của Ban Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản.

Nam 1923 Ông rời Paris đi Moscow, và hoạt động cho Đệ Tam Quốc Tế ở đây. Ông “học tập tại trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông được đào tạo chính quy về Chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang.

Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Đệ Tam Quốc tế (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.” (Wikipedia).

Từ năm 1924 đến năm 1927 ông hoạt động ở Trung Quốc. Ông tới đây theo chân của phái đoàn cố vấn của chánh phủ Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn đến giúp chánh phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch. Ông có nhiệm vụ tuyên truyền lý thuyết Cộng Sản của Nga ra Đông Phương.

Câu chuyện ông lấy một người Hoa làm vợ xảy ra trong giai đoạn này. Ông cưới bà Tăng Tuyết Minh (Zeng Xueming) ngày 18 tháng 10 năm 1926. Đám cưới được tổ chức nơi Chu Ân Lai từng cưới vợ. Vợ chồng ông sống chung nhà với đồng chí Mikhail Borodin của Nga.

Năm 1925 ông tham gia thành lập “Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”. Tổ chức này sau đó trở thành đảng Cộng Sản Nam Hải. Nó cũng là tiền thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau này.

Năm 1930 ông nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản đến Kowloon ở Hong Kong hợp với hai nhóm Công Sản Đông Dương đang có mâu thuẫn. Ông giúp họ thống nhất lực lượng thành Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Năm 1931 ông bị bắt ở Hồng Kông. Pháp đòi dẫn độ ông về Việt Nam. Anh phao tin ông chết trong tù vào năm 1932, và bí mật thả ông ra vào năm 1933. Ông bí mật trở lại Moscow và ở đó từ năm 1934 đến 1938. Trong giai đoạn này ông học và dạy tại Viện Lenin. Trong giai đoạn này, nhiều lục đục xảy ra, ông bị các đồng chí của ông tố cáo với Đệ Tam Quốc Tế, và ông bị họ nghi ngờ.

“Ông bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương viết thư gửi Quốc tế Cộng sản kết tội phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn 100 đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt do việc ông biết Lâm Đức Thụ trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng.” (Wikipedia)

Vụ việc nầy giải quyết êm đẹp, ông không bị cách chức hay bị loại trừ. Trong giai đoạn 1931-1935, ông bị Trần Phú và Hà Huy Tập chống đối. Họ tố cáo ông “liên minh với tư sản và địa chủ”, đi sai đường hướng đấu tranh giai cấp của Đệ Tam Quốc Tế.

“Trong một bức thư kể cho tổ chức Đệ Tam Quốc tế hay về phong trào cách mạng vô sản tại Đông Dương được viết vào tháng 3 năm 1935, Nguyễn Ái Quốc bị phê phán nặng nề. Bức thư này có ghi nhận về “tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc”.

Trong thư này cũng có đoạn: “Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”.

Sở dĩ có việc phê phán này là do vào thời điểm đó, Quốc tế Cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Stalin, đặt trọng tâm vào việc đấu tranh giai cấp để đi đến xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản và không quan tâm nhiều đến các vấn đề giải phóng thuộc địa..” (Wikipedia)

Trong giai đoạn này ông bị các đồng chí nghi ngờ nên không được họ cho lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương. Các đồng chí của ông là Trần Phú, Lê Hồng Phong, và Hà Huy Tập lần lượt được bầu vô chức vụ Tổng Bí Thư Đảng. Ông chỉ đóng vai trò liên lạc giữa Đệ Tam Quốc Tế và các Đảng Cộng Sản tại Đông Nam Á mà thôi.

Năm 1938 ông được bổ dụng trở về Trung Quốc hoạt động với tư cách cố vấn cho Hồng Quân, quân đội Cộng Sản nước này. Ông hoạt động ở đây trong hai năm 1938-1939. Hồng Quân của Mao Trạch Đông sau nầy thắng Tưởng Giới Thạch tạo cơ hội tốt cho cách mạng Cộng Sản ở Việt Nam. Tên Hồ Chí Minh bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này.

Năm 1941 ông trở về Việt Nam, và lãnh đạo đảng Cộng Sản ở đây tranh đấu giành độc lập cho nước này. Đường hướng dùng tình tự dân tộc, lợi dụng tinh thần dân tộc, và ảnh hưởng của giới tư sản để chiếm chánh quyền, từ đó cai trị độc tài thiết lập chế độ vô sản chuyển chế, đã thành công.

Dân Việt Nam ủng hộ lập trường này, cho đến năm 1975. Năm nầy đánh dấu sự xuống dốc của đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã thắng trận, nhưng họ đã mất lòng dân từ đó, chỉ cai trị nhờ lực lượng Công An, Tình Báo và Quân Đội mà thôi, không được dân thương và ủng hộ như trong thời kháng chiến chống Pháp.

Đúng như một lãnh tụ Cộng Sản thời đổi mới đã nói: Ngày 30 tháng tư có triệu người vui, và triệu người buồn. (Sẽ bổ túc sau).

https://lthdan03.wordpress.com/2015/02/15/sai-gon-thanh-pho-ho-chi-minh/

https://www.facebook.com/notes/le-thanh-hoang-dan/sài-gòn-hồ-chí-minh-là-ai/10153034412768467

Posted in Uncategorized | Tagged , | Để lại bình luận

Ba Chúc: Nơi Pol Pot giết hại người Việt Nam

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.651241398321479.1073741982.491938480918439&type=3&uploaded=13

Các bạn có nghe nói tới vụ Thảm Sát ở Ba Chúc không? Đây là nơi quân đội Cộng Sản của Pol Pot đã thảm sát 3,157 người Việt Nam vào tháng 4 năm 1978. Ba Chúc là một thị trấn thuộc huyện Tri Tôn tỉnh An Giang, nằm cách biên giới Việt Nam-Campuchia khoảng 7 cây số. Lúc về thăm lại quê hương mấy năm trước, vợ chồng tôi có đến thăm viếng di tích lịch sử này, tưởng nhớ những người Việt Nam đã bị Pol Pot giết hại.

Pol Pot là lãnh tụ của Cộng Sản Campuchia, được thế giới biết đến là phe Khmer Đỏ. Ông chỉ cầm quyền vài năm, nhưng trong cuộc cách mạng theo kiểu Mao Trạch Đông, ông đã giết chết 1/4 dân tộc của ông, 1/2 số người Hoa ở Campuchia, và vô số người Việt Nam sanh sống ở nước nầy. Ông cũng cho quân đội vượt biên giới tàn sát người Việt, quan trọng nhất là ở Ba Chúc.

Ở đây trong suốt tuần lễ từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1978, quân Cộng Sản Pol Pot đã vượt biên giới giết hại đồng bào Việt Nam chúng ta. Cuộc thảm sát này còn được nhớ lại trong “Cụm di tích căm thù”, còn được biết đến với tên “Khu chứng tích tội ác diệt chủng Pôn Pốt” tại Ba Chúc.

Tại địa điểm nhà mồ tập thể này ngày nay còn giữ lại di tich tưởng niệm ngày đau thương này. Đó là 1,157 hài cốt của những nạn nhân cuộc thảm sát này của đảng Cộng sản Campuchia.

Lúc đó tôi đang sống tại New York, đang lặn hụp với cuộc sống mới, nên không theo dõi tình hình ở quê nhà. Về thăm lại quê hương, nhìn lại di tích số người bị thảm sát, đau buồn quá. Một giọt nước mắt muộn màng này cho quê hương Việt Nam.

“Phần lớn nạn nhân bị sát hại vào ngày 18 tháng 4, khi một toán quân Khmer xâm nhập dồn hết dân làng vào các ngôi chùa và trường học rồi thảm sát. Những người sống sót trốn được vào núi Tượng, tuy nhiên họ bị phát hiện ra vài ngày sau. Phần lớn nạn nhân bị bắn, chém, chặt đầu. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp, bị đóng cọc vào chỗ kín, trẻ em thì bị đâm lê trước khi giết chết.” (Wikipedia).

Ba Chúc cách biên giới Việt-Campuchia khoảng 7 cây số. Trong đoàn du lịch có một cựu sĩ quan của miền Nam trước đây. Ông giận lắm. Ông nói: Suốt tuần lể đau thương này, không biết quân đội Việt Nam ở đâu, để sự việc này xảy ra. Thời Việt Nam Cộng Hòa Campuchia không bao giờ làm được việc này. Việt Nam không bao giờ cho phép họ làm chuyện này.

Hướng dẫn viên du lịch giải thích lúc đó quân đội Việt Nam đang bận rộn đối phó với Trung Quốc ở biên giới Việt-Trung miền Bắc. Không biết lời giải thích lịch sử này đúng không, vì lúc đó là tháng 4 năm 1978. Chiến tranh biên giới với Trung Quốc xảy ra vào năm 1979.

Sau này khi nước Việt Nam thực sự độc lập và tự do, trí thức có quyền suy nghĩ đứng đắn, có quyền tìm hiểu sự thật, hy vọng Lịch Sử sẽ rọi ánh sáng nhiều vấn đề, cho tới nay vẫn còn mù mờ, về tương quan giữa Cộng Sản Pol Pot và Cộng Sản Việt Nam, cũng như tương quan giữa đảng Cộng Sản này và đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Giấc mơ các đảng Cộng Sản trên thế giới là anh em với nhau, giấc mơ những người vô sản thế giới là anh em với nhau, cho tới nay chỉ là giấc mơ, không hiện thực. Không đúng ở Đế Quốc Nga và những nước nhỏ láng giềng như Ba Lan, Ukraine v.v.., cũng không đúng ở Đế Quốc Tàu với các nước nhỏ như Tây Tạng, Mông Cổ v.v.., lại càng không đúng với Đế Quốc Việt Nam và các nước đàn Em.

Ba Chúc: Nơi Pol Pot giết hại người Việt Nam

https://lthdan03.wordpress.com/2011/12/20/ba-chuc-nơi-pol-pot-giết-hại-người-việt-nam/

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Làng nổi Châu Đốc

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.651066675005618.1073741981.491938480918439&type=3&uploaded=19

Làng nổi Châu Đốc là một khu làng bè trên sông Bassac ở Châu Đốc, mỗi chủ bè có một hoặc nhiều bè kết hợp lại với nhau, bè để sống, và bè để nuôi cá Basa hay Cá Tra (Catfish). Sinh hoạt người dân nuôi cá ở đây rất đặc biệt. Vợ chồng tôi đã đến đây thăm viếng nhiều lần, những ngày về thăm lại quê hương.

Làng này đã manh nha từ trước năm 1975, và phát triển mạnh trong thời đổi mới. Lúc chúng tôi đến đây thăm viếng, khu này có hơn 4,200 bè cá nỗi, trải dài hơn 7 cây số trên sông Hậu. Nghề nuôi cá Basa nổi tiếng đến nỗi cá này trở thành biểu tượng của thành phố Châu Đốc. Ở đây bên bờ sông Hậu có tượng đài cá Basa rất đặc biệt.

Làng nổi Châu Đốc còn được biết đến với nhiều tên khác như làng bè, hay làng nuôi cá Châu Đốc. Làng phát xuất do tình cờ, không ai định trước.

Câu chuyện bắt đầu từ trước năm 1975. Lúc đó người Việt Nam sống nhiều ở biển Hồ bên Campuchia. Họ sống nhờ nghề đánh cá. Khi họ bắt nhiều cá, họ bỏ cá trong lòng tre rộng dưới nước. Dần dà họ bán cá có tiền, nên nghĩ cách đóng bè nuôi cá nhiều hơn.

Năm 1970 một người trong đám họ (Ông Mến) trở về nuôi cá trên sông Hậu ở An Giang. Ông làm ăn khá, nên nhiều người trong vùng bắt chước đóng bè nuôi cá. Như vậy trước năm 1975 đã manh nha làng nuôi cá ở Châu Đốc.

Thời hoàng kim của làng bè Châu Đốc là thập niên 1990-2000. Lúc đó ai nuôi cá ở đây cũng giàu, xài tiền như nước. Lúc đó cá Basa bán được giá, và còn xuất cảng ra ngoại quốc, nên dân làng xúm nhau nuôi cá, tạo nên làng bè nổi tiếng ngày nay. Thời oanh liệt đó nay không còn nữa.

Ngành du lịch sông Cửu Long càng ngày càng hay. 20 năm trước đến thăm Châu Đốc, tôi không nghe ai nhắc tới làng cá nỗi ở đây. Vừa rồi về thăm lại miền Tây, vợ chồng tôi được hướng dẫn đi ghe lênh đênh trên sông Cửu Long, thăm viếng làng nỗi Châu Đốc, với nhiều bè được dùng để nuôi cá, đặc biệt lắm.

Mặc dầu được sanh ra và lớn lên tại miền Nam, do chiến tranh tôi chỉ sống lẩn quẩn ở Sài Gòn, không biết gì nhiều về quê hương của tôi, không biết gì nhiều về miền Tây nơi ông bà cha mẹ tôi đến đây lập nghiệp từ mấy trăm năm trước.

Mỗi lần về thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách, tôi lại trở về miền Tây, tìm hiểu nhiều hơn về tâm tình, cách sống, và thưởng thức những món ăn ông bà cha mẹ tôi đã từng ăn, thú vị lắm.

Do đó tôi rất vui được đi lênh đênh trên sông Cửu Long nhiều lục bình trôi bềnh bồng, được ngắm cảnh dân chúng sanh sống hai bên bờ sông, hay lắm. Người dân ở đây chất phát thật thà và vui vẻ chào đón tôi, thích lắm.

Mỗi lần về thăm lại quê hương, tôi cảm thấy ấm lòng với tình người Việt Nam trong nước. Sống ở ngoại quốc, nhiều lúc tôi thấy tâm hồn trống trải cô đơn. Những lúc như vậy, tôi thường về lại quê hương, để được tiếp xúc với dân Việt Nam, tâm hồn tôi ấm lại bớt cô đơn.

Làng nỗi Châu Đốc là một địa điểm tham quan mới của vùng đất này. Vài năm trở lại đây, do phong trào nuôi cá tra và cá basa, nhiều chủ bè đóng ít nhất 3 hoặc 4 bè kết nối với nhau, có bè để sống , bè để nuôi cá.

Đây là lần đầu tiên tôi được thăm viếng một làng nỗi như vậy ở trên quê hương Việt Nam. Chúng tôi được hướng dẫn lên một bè cá nỗi, và xem người ta cho cá ăn, và giải thích kỹ thuật nuôi cá trên sông Cửu Long. Hay lắm.

Du lịch miền Tây (19): Làng nổi Châu Đốc

https://lthdan03.wordpress.com/2010/09/14/du-lịch-miền-tay-19-lang-nổi-chau-dốc/

https://lthdan02.wordpress.com/2013/11/17/chau-doc-hinh-anh-lang-be-nuoi-ca/

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Tam Cốc-Bích Động

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.650568751722077.1073741980.491938480918439&type=3&uploaded=34

Tam Cốc-Bích Động là một điểm đến du lịch nổi tiếng trong tỉnh Ninh Bình miền Bắc Việt Nam. Đây là một hệ thống hang động núi đá vôi rất đẹp và nhiều lịch sử, liên hệ tới nhà Trần. Khu danh thắng Tràng An-Tam Cốc là một khu du lịch trọng điểm quốc gia, được UNESCO nhìn nhận là Di Sản Thế Giới.

Những ngày về thăm lại quê hương kỷ niệm 50 năm ngày cưới (năm 2009), tôi và người tình trăm năm đã lấy tour du lịch tham quan động Tam Cốc, hay lắm. Tam Cốc là 3 hang động nằm trên sông Ngô Đồng: Hang Cả, Hang Hai và Hang Ba. Bích Động là chùa cổ xưa được xây năm 1428 thời Hậu Lê. Thời Lê Hiến Tông chùa được trùng tu mở rộng thêm thành 3 chùa: Chùa Hạ, Chùa Trung và Chùa Thượng, nằm trên 3 tầng núi.

Ba động thuộc Tam Cốc nằm trên sông Ngô Đồng, do đó vợ chồng tôi đã lấy thuyền lênh đênh trên sông này gần 3 tiếng, thú vị lắm. Ngồi thuyền nhỏ như xuồng ba lá trong Nam, tôi ngắm cảnh núi đá vôi hùng vĩ hai bên bờ sông, với những cánh đồng lúa đổi màu tùy mùa, cảnh vật đẹp và thanh bình lắm.

Hang Cả dài nhất và đồ sộ nhất. Hang nầy dài 127 thước xuyên qua núi. Cửa hang rộng trên 20 thước. Trong hang có nhiều nhủ đá hình thù quái dị, đẹp lắm. Hai hang kia cách Hang Cả khoảng một cây số, nhỏ hơn. Hang Hai dài chỉ 60 thước, với nhiều nhủ đá. Hang Ba gần đó chỉ dài 50 thước thôi, trần thấp hơn hai hang kia.

Sông Ngô Đồng là một con sông nhỏ nằm trong vùng Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Nó là một chi lưu của sông Sào Khê, chảy ngang qua các di tích lịch sử cố đô Hoa Lư, và quần thể hang động Tràng An. Sông Ngô Đồng chảy trong vùng núi đá vôi ở Tràng An, và đổ vô sông Vạc tại gần cầu Vũng Trắm.

Ngồi trên sông Ngô Đồng gần 3 tiếng, tôi ngắm cảnh vật vùng núi hai bên bờ sông, nhớ mênh mông về quá khứ xa xôi của dân tộc. Ở đây nhà Trần của nước Việt Nam nhỏ bé đã thắng được đế quốc Nguyên-Mông hùng mạnh, thật ngưỡng mộ quá.

Một dân tộc nhỏ bé thắng được quân đội của đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ qua 3 lần xâm lược (năm 1258, 1285 và 1287), các bạn biết tại sao không? Đó là nhờ Ông Cha chúng ta biết đoàn kết dân tộc. Những danh tướng đời nhà Trần như Trần Hưng Đạo dùng sức mạnh nhân dân để thắng địch, không “Cổng Rắn cắn gà nhà”.

Du lịch miền Bắc (10): Tam Cốc

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/du-lich-tam-coc/

Du lịch miền Bắc (11): Tam Cốc (2)

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/du-lich-tam-coc-2/

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Du lịch miền Tây (3): Chợ Vĩnh Long

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.650328245079461.1073741979.491938480918439&type=3

Trên đường du lịch miền Tây, tôi và người tình trăm năm đã ghé thăm chợ Vĩnh Long. Chợ nầy tấp nập và vui quá. Vợ chồng tôi đã dừng chân đi lang thang khu chợ, như một du khách, rất vui. Chợ bán nhiều trái cây miền Nam hấp dẫn lắm. Trái cây ở Vĩnh Long nổi tiếng ngon, hái từ vườn đem ra bán tươi, ngon và ngọt đặc biệt. Xin chia sẻ với các bạn một vài hình ảnh sinh hoạt người dân ở đây.

Vĩnh Long là quê hương của Pétrus Trương Vĩnh Ký và Võ Văn Kiệt. Ngoài ra Vĩnh Long cũng đã cống hiến cho đất nước nhiều đứa con đáng kể như: Trần Văn Hương, Út Trà Ôn và Lệ Thủy. Đây cũng là quê Mẹ của tôi. Ông bà cha mẹ của tôi cũng đang yên nghỉ giấc ngàn thu ở đây. Trở về vùng đất này giúp tôi tìm lại cội nguồn và gốc rễ của tôi.

Pétrus Trương Vĩnh Ký sanh ở tỉnh Vĩnh Long ngày 6 tháng 12 năm 1837, và qua đời ngày 1 tháng 9 năm 1898. Ông đã để lại hơn 100 công trình viết lách và dịch thuật giúp phát triển sự hiểu biết giữa nước Việt Nam và Âu Châu.

Chính nhờ ông mà chữ Quốc Ngữ ngày nay trở thành chữ viết chánh thức của nước Việt Nam, thay vì chữ Nôm và chữ Hán. Ông được coi là ông tổ nghề báo ở Việt Nam, vì ông đã sáng lập và làm Tổng Biên Tập cho tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam tên Gia Định Báo.

Võ Văn Kiệt là một người Cộng Sản, nhưng ông được nhớ tới như người đã có công dẫn dắt nước Việt Nam vào con đường đổi mới, tạo nên nước Việt Nam hiện đại ngày nay. Ông là người đã hiểu được nỗi khổ của người dân miền Nam thua trận, và đã nói một câu gây xúc động lòng người: Ngày 30 tháng Tư có triệu người vui, và triệu người buồn. Trước ông, Cộng Sản không chấp nhận có triệu người buồn. Theo họ, họ yêu nước, và những người bỏ nước ra đi là bán nước. Chính họ đã tạo ra sự chia rẽ sâu xa trong lòng dân tộc, 40 năm sau khi tiếng súng ngừng nổ vết thương vẫn chưa lành.

Vĩnh Long là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam. Thành phố Vĩnh Long là tỉnh ly của tỉnh này. Dân số của tỉnh này là 1,046,390 người, sống trong diện tích 1,475 km² (Cây số vuông).

Vĩnh Long nằm cách thành phố Sài Gòn 135 cây số về hướng Bắc, và Cần Thơ 33 cây số hướng Nam theo quốc lộ 1. Tỉnh này nằm trong vùng đồng bằng bằng phẳng, không có núi đồi. Nói đúng hơn nó nằm trong lòng chảo, chính giữa hơi thủng, cao dần ở ngoài bìa, phía Bắc, Đông Bắc và Nam Đông Nam. Cũng như thành phố Sài Gòn khí hậu ở đây là nhiệt đới gió mùa. Vĩnh Long có nhiều sông rạch chằng chịt.

Sau năm 1975 Cộng Sản đổi tên Vĩnh Long là tỉnh Cửu Long. Tỉnh này bao gồm Vĩnh Long và Trà Vinh. Từ năm 1991 Việt Nam đổi mới, tỉnh Cửu Long lấy tên trở lại là Vĩnh Long. Tên nầy tồn tại đến ngày nay.

Vĩnh Long nằm giữa hai sông Tiền và Hậu. Cá, tôm rất nhiều trong sông rạch ở đây, đặc biệt cá Basa và Cá Tra (Catfish). Ngoài nguồn tài nguyên về tôm cá, tỉnh này còn có đủ thứ trái cây miền Nam như Măng Cụt, Chôm Chôm, Sầu Riêng, Bưởi, Cam v.v…

Lúa gạo được sản xuất mạnh ở đây. Năm 2011 tỉnh này đã sản xuất hơn một triệu tấn lúa gạo. Năm nầy GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt đến 24 triệu đồng. Số du khách đến đây thăm viếng tỉnh lên đến 750,000 người, theo Wikipedia tiếng Việt.

Du lịch miền Tây (3): Chợ Vĩnh Long

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/du-lich-mien-tay-3-cho-vinh-long/

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Huế: Kinh Thành, Di sản Văn hoá Thế giới

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.650143235097962.1073741978.491938480918439&type=3&uploaded=25

Kinh Thành Huế (Huế Citadel) là một pháo đài và cung điện của Vua Việt Nam tại cố đô Huế. Đây là nơi đóng đô của Vương triều nhà Nguyễn từ năm 1805 đến năm 1945. Nó là một thành phần quan trọng trong Cụm Dì Tích cố đô Huế được UNESCO nhìn nhận là Di Sản Văn Hoá Thế Giới.

Vợ chồng tôi đến đây thăm viếng nhiều lần từ ngày Tổng Thống Clinton bỏ lệnh cấm vận. Độc đáo lắm. Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam còn lại di tích một cung điện hoàng gia của thời Vua Chúa xa xưa.

Kinh Thành Huế được bao quanh bởi tường thành kiên cố và pháo lũy, bao quanh là hào sâu. Nước trong hào sâu lấy từ sông Hương. Huế có 3 vòng thành. Tường thành bên ngoài là Kinh Thành (Huế Citadel). Tường thành bên trong là Hoàng Thành (Imperial City). Tường thành sau cùng là Tử Cấm Thành (Forbidden City). Đây là nơi Vua và gia đình sống, giống như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1802 Nguyễn Phước Ánh lên ngôi Hoàng Đế mở đầu cho Vương triều nhà Nguyễn kéo dài 143 năm. Vương quyền của Vua Gia Long được Trung Quốc công nhận vào năm 1804.

Liền sau khi lên ngôi Vua Gia Long đã nhờ các Thầy Phong Thủy (Geomancers) cố vấn tìm vị trí xây dựng Kinh Thành. Địa điểm được chọn nằm ở bờ phía Bắc sông Hương. Về mặt phong thủy vùng đất Kinh Thành được núi Ngự Bình che chở, gọi là tiền án. Hai bên là hai cồn (Cồn Hến và Cồn Dã Viên) làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, có nghĩa là rồng xanh bên trái, cọp trắng bên phải, làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng Vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn.

Kinh Thành Huế được Vua Gia Long khảo sát và chọn địa điểm vào năm 1803. Thành được khởi công xây cất vào năm 1805, và hoàn thành năm 1832 dưới triều Vua Minh Mạng. Lúc ban đầu người ta xây tường thành bằng đất dài gần 10 cây số, bao quanh bởi hào sâu. Tường thành này sau đó được xây lại bằng gạch đá bề dầy 2 thước. Đây là một công trình vỉ đại, cả ngàn nhân công làm việc gần 30 năm mới xong.

Kinh Thành Huế được xây ở bờ Bắc sông Hương, rộng khoảng 520 hecta. Kinh Thành (The Citadel), Hoàng Cung (Imperial City) và Tử Cấm Thành (Forbidden City) đều được xây quay mặt về hướng Nam, giống như Cung Điện Vua Tàu ở Bắc Kinh. Tại sao quay mặt về hướng Nam? Theo Kinh Dịch, Vua phải quay mặt về hướng Nam để trị dân (Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ).

Kinh Thành Huế có 10 cổng vào. Trong Kinh Thành (The Citadel) có tường thành thứ hai với hào sâu bao quanh Hoàng Thành (Imperial City), là nơi Vua ở và làm việc. Các tường thành được xây vào năm 1805, nhưng tất cả các cung điện với tổng cộng khoản 100 công trình, chỉ được hoàn tất gần 30 năm sau dưới đời Vua Minh Mạng, năm 1833. Hoàng Thành có 4 cửa chánh, trong số đó có cửa Ngọ Môn.

Trong Hoàng Thành có Điện Thái Hòa, nơi thiết triều, khu vực các Miếu thờ và Tử Cấm Thành. Đây là nơi Vua và hoàng gia ở và sanh sống, như ở Bắc Kinh. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành hợp lại có tên Đại Nội. Dân chúng sống ở ngoài khu này.

Năm 1968 quân đội Cộng Sản đã chiếm Huế, sau đó phe quốc gia với sự giúp đỡ của Mỹ đã phản công tái chiếm thành phố này. Trận đánh năm đó rất ác liệt. Lúc ban đầu người Mỹ được lệnh không được bắn trọng pháo, làm hư hại Kinh Thành và Đại Nội. Tuy nhiên, khi trận đánh kéo dài với nhiều thiệt hại, người ta đã dùng đến bom và trọng pháo, làm hư hại nhiều di tích lịch sử nầy.

Trong số 160 kiến trúc của Kinh Thành Huế, ngày nay chỉ còn đứng vững có 10 kiến trúc mà thôi. Năm 1993 UNESCO nhìn nhận đây là Di Sản Văn Hoá Thế Giới. Nhiều công trình tu sữa và bảo tồn được thực hiện từ đó đến nay.

Xin chia sẻ với các bạn vài hình ảnh Kinh Thành Huế, lúc vợ chồng tôi đến đây thăm viếng, một ngày cuối thu năm 2009. Vì có nhiều điểm tham quan nên trong bài này tôi chỉ post hình ảnh bức tường thành phía ngoài, dẫn tới những di tích như Kỳ Đài, Cửu vị thần công, cửa Ngọ Môn, Hoàng Thành, Điện Thái Hoà và Cửu Đỉnh thôi. Trong những entry tới, tôi sẽ post thêm những di tích còn lại.

Huế: Kinh Thành, Di sản Văn hoá Thế giới

https://lthdan03.wordpress.com/2013/11/24/hue-hoang-cung-di-san-van-hoa-the-gioi/

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận

Hà Nội: Văn Miếu – Quốc Tử Giám

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.649874555124830.1073741977.491938480918439&type=3&uploaded=18

Văn Miếu thờ một triết gia người Trung Quốc, là Không Tử. Quốc Tử Giám bắt đầu là một trường Hoàng gia được xây trong khuôn viên Văn Miếu. Học trò nổi tiếng nhất trường này là vua Lý Nhân Tông thời còn trẻ. Sau nầy trường mở rộng đào tạo nhân tài cho đất nước. Chu Văn An là viện trưởng nổi tiếng của Quốc Tử Giám. Những ngày thăm viếng Hà Nội vào năm 2009, vợ chồng tôi ở tại một khách sạn gần di tích lịch sử này, nên đã đến đây thăm viếng nhiều lần. Rất đặc biệt. Năm 2010 UNESCO nhìn nhận các bia Tiến Sĩ ở đây là Di Sản Tư Liệu thế giới.

Văn Miếu (Temple of Literature) được Vua Lý Nhân Tông xây vào năm 1070 để thờ một triết gia Trung Quốc, là Khổng Tử. Ngày xưa Trung Quốc là một đế quốc ở Á Châu, đã ảnh hưởng sâu đậm vùng đất này, nên khắp vùng này ở đâu cũng có Văn Miếu, hay Khổng Miếu. Ngoài Việt Nam Văn Miếu còn hiện diện ở nhiều nước khác như: Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, Triều Tiên v.v…

Ở Việt Nam cũng có nhiều Văn Miếu, cơ sở ở Hà Nội lâu đời nhất và nổi tiếng nhất. Nó nằm ở phía Nam thành Thăng Long ngày xưa. Hình ảnh Văn Miếu được in trên tiền 100,000 đồng Việt Nam. Mỗi năm những ngày trước Tết các Thầy Đồ đến đây viết câu đối, cảnh tượng đón Tết ở đây độc đáo lắm.

Văn Miếu ở Hà Nội được xây vào năm 1070 dưới đời nhà Lý. Nó được trùng tu và sửa chữa nhiều lần dưới đời nhà Trần và nhiều triều đại khác từ năm 1225 đến năm 1400. Thời gian và chiến tranh không phá hủy được những kiến trúc ở đây. Đây là một di tích lịch sử quốc gia còn tồn tại từ thời xa xưa. Những lần sửa chữa quan trọng được tổ chức vào những năm 1920, 1954, và 2000. Năm 2009, lúc vợ chồng tôi đến đây thăm viếng, người ta đã sơn phết và làm đẹp lại kiến trúc này, để chuẩn bị ăn mừng Thăng Long-Hà Noi 1000 năm tuổi.

Năm 1076, trường Quốc Tử Giảm (Imperial Academy) được xây dựng trong khuôn viên Văn Miếu, bắt đầu hoạt động. Trường này có mục đích giáo dục giới quí tộc theo truyền thống đạo Khổng, để trở thành người quân tử, giúp Vua trị nước. Con của Vua cũng học triết lý Trung Quốc ở đây. Mặc dầu Việt Nam độc lập, nhưng đó chỉ là danh nghĩa. Các Vua Chúa Việt Nam chưa bao giờ độc lập trên phương diện tinh thần cả.

Có nhiều lúc tôi tự hỏi sau 4,000 năm Việt Nam bị Tàu đô hộ và đồng hóa, thời độc lập Việt Nam mình có thật sự độc lập hay không, hay chỉ là độc lập trên danh nghĩa. Thời độc lập Vua Chúa Việt Nam vẫn phải triều cống Tàu. Trên phương diện tinh thần, chưa lúc nào họ thoát khỏi được tinh thần triết lý, văn hóa và giáo dục của Tàu. Lẽ dĩ nhiên hai nước có khác biệt, nhưng khác biệt đó có đủ để nói là Việt Nam độc lập với Trung Quốc không, từ xưa đến nay?

Trường Quốc Tử Giám hoạt động từ năm 1076 đến năm 1779. Năm 1802 nhà Nguyễn lấy Huế làm thủ đô, và dời trường Quốc Tử Giám về đây. Thời nhà Nguyễn, trường này ở Hà Nội trở thành một trường học thường của phủ Hoài Đức. Sau này người ta xây đền Khải Thánh thờ cha mẹ của Khổng Từ ở đây.

Quần thể Văn Miếu-Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, rộng 54331 thước vuông. Bốn phía của quần thể này là Phố: cổng chánh ở phía Nam là phố Quốc Tử Giám, phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Nó bao gồm nhiều khu khác nhau như: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám.

Kiến trúc Văn Miếu-Quốc Tử Giám mô phỏng theo kiến trúc Văn Miếu của Trung Quốc ở quê nhà Khổng Tử. Văn Miếu ở Khúc Phụ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc là đền thờ Khổng Tử lớn nhất và nổi tiếng nhất thế giới. Nó được UNESCO nhìn nhận là một Di Sản Thế Giới.

Wikipedia tiếng Việt lý luận chúng ta chỉ bắt chước bề ngoài thôi. Mặc dầu những kiến trúc ở hai nơi này đều có Đại Trung môn, Đại Thành môn, Khuê Văn Các v.v…, nhưng chúng ta chỉ bắt chước cách gọi tên thôi. Thật ra Việt Nam mình có nhiều điểm khác với Trung Quốc. Thật tình mà nói, tôi cũng không đủ chuyên môn để hiểu được những điều khác biệt độc đáo của Việt Nam, so với Trung Quốc.

Cổng ra vào Văn Miếu là Văn Miếu Môn. Trước cổng có 4 trụ cột (Tứ trụ), và hai tấm bia “Hạ Mã” hai bên. Ngày xưa dầu các bạn có làm quan lớn cách mấy, khi đi ngang qua đây các bạn cũng phải xuống xe, hoặc ngựa, đi bộ ngang qua đây. Trước cổng Văn Miếu bên kia đường là hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian thường gọi là hồ Giám.

Văn Miếu Môn có cửa tam quan, 3 cửa. Cửa giữa được dành cho Vua, cửa bên trái được dành cho quan Văn, và cửa bên phải được dành cho quan Võ. Phía trong Văn Miếu được chia thành 5 sân, hai sân đầu là Đại Trung Môn và Khuê Văn Các. Sân thứ 3 tên Giếng Thiên Quang và Bia Tiến Sĩ. Sân thứ tư là Đại Thành Môn (Khu điện thờ), và sân thứ 5 là Đền Khải Thánh-Quốc Tử Giảm.

Những bia Tiến Sĩ ở đây được UNESCO nhìn nhận là Di Sản Thế Giới. Tổng cộng ở đây có 116 bia Tiến Sĩ dựng trên lưng con Quy. Thời gian đã hủy diệt nhiều bia, ngày nay chỉ còn 83 bia. Những bia này là nguồn sử liệu quí giá để nghiên cứu văn hoá, giáo dục và nghệ thuật của Việt Nam.

Tổ chức giáo dục và giảng dạy ở Quốc Tử Giám (Imperial Academy) ra sao? Việc giáo dục ở đây bắt đầu từ năm 1076 dưới đời nhà Lý, và được phát triển và sửa đổi dưới thời nhà Lê vào thế kỷ 15. Trường này có một Viện Trưởng và một Phó Viện Trưởng đứng đầu. Chu Văn An là viện trưởng nổi tiếng được thờ ở Hậu Đường.

Muốn học trường này, học sinh phải đậu kỳ thi “Hương”. Chương trình học ở đây chú trọng đến việc học Tứ Thư và Ngũ Kinh. Đây là 9 bộ sách chủ yếu của Nho Giáo. Học sinh học ở đây từ 3 đến 7 năm.

Mỗi tháng họ được trắc nghiệm nhỏ (minor test) một lần. Mỗi năm họ được trắc nghiệm lớn (major test) 4 lần. Nếu họ đủ điểm những kỳ thi trắc nghiệm này, họ được dự những kỷ thi lớn hơn, được gọi là thi “Hội” và thi “Đình”. Đích thân Vua chủ tọa những kỳ thi “Đình”, đặt câu hỏi, đánh giá câu trả lời của thí sinh, và cho điểm, xếp hạng thí sinh.

Tứ Thư và Ngũ Kinh là 9 cuốn sách làm nền tảng của Nho Giáo. Tứ Thư bao gồm 4 quyển sách sau đây: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. 5 quyển Ngũ Kinh gồm có: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Thời Khổng Tử có một cuốn Kinh thứ 6, nhưng đã bị Tần Thủy Hoàng đốt, cho nên bây giờ chúng ta chỉ còn Ngủ Kinh mà thôi.

Với một chương trình học toàn văn chương chữ nghĩa thu hẹp trong lý thuyết của Khổng Tử của Trung Quốc, Vua Chúa Việt Nam cùng triều thần không thể nào hiểu được những tiến bộ khoa học của thế giới thời hiện đại được. Khi người Mỹ đến xin giao thương, thay vì mở cửa giao thương như Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật, và cải cách đổi mới đất nước như Nhật, họ cầu viện Trung Quốc, tạo xung đột võ trang với Tây Phương, dẫn tới mất nước cả 100 năm. Mời các bạn đọc thêm hai bài về thăm viếng lăng Minh Mạng và Tự Đức. (Sẽ bổ túc sau).

Hà Nội: Văn Miếu – Quốc Tử Giám

https://lthdan03.wordpress.com/2010/03/29/một-chut-ha-nội-van-miếu-quốc-tử-giam/

Posted in Uncategorized | Tagged | Để lại bình luận