Du lịch thành phố Sài Gòn

Tiếp tục hành trình tìm hiểu quê hương nơi tôi sanh, sau khi Tổng Thống Clinton bỏ lệnh cấm vận, nước Việt Nam đổi mới, vợ chồng tôi thỉnh thoảng về thăm lại Sài Gòn, du lịch khắp nơi trong nước, đặc biệt thăm viếng miền Bắc 2 lần, miền Trung hơn 4 lần, miền Nam 5-6 lần. Sài Gòn và Hà Nội là hai đề tài nhạy cảm, khó có thể viết về hai thành phố lớn này một cách khách quan, không chen lấn tình cảm thương và ghét, khen và chê. Tuy nhiên mục đích của tôi là tìm hiểu khách quan, nên hy vọng tôi đè nén được những tình cảm có thể làm tôi mù quáng, và phán xét phiến diện.

Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1954 đến năm 1975. Ngày nay nó không còn là thủ đô nữa, nhưng vẫn còn giữ chức vụ thành phố lớn nhất nước Việt Nam. Nó là đầu tàu kinh tế thời đổi mới, giúp đưa nước Việt Nam ra khỏi thời kỳ đói nghèo của chánh sách kinh tế bao cấp, đưa Việt Nam đến nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay.

Sau sự kiện năm 1975, Phe Chiến Thắng đã lấy tên lãnh tụ của họ để đặt tên cho thành phố Sài Gòn. Ngày nay sau 41 năm Cộng Sản đổi tên thành phố thành Hồ Chí Minh, trong thực tế của đời sống hàng ngày, người Việt Nam vẫn còn gọi đây là thành phố Sài Gòn.

Sài Gòn nằm ở miền Đông Nam nước Việt Nam cách Hà Nội khoảng 1,760 cây số về phía Nam. Độ cao trung bình của vùng nầy khoảng 19 thước trên mực nước biển. Nó giáp ranh với tỉnh Tây Ninh và Bình Dương ở phía Bắc, giáp ranh với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía Đông, với tỉnh Long An ở phía Tây, và biển Đông ở phía Đông. Vùng bờ biển ở đây dài đến 14 cây số. Diện tích thành phố rộng khoảng 2,095 cây số vuông, trải dài từ Cũ Chi đến Cần Giờ.

Tên Sài Gòn không mới mẽ gì. Nó được chánh quyền Pháp đặt tên Sài Gòn khi họ vừa mới đến đây. Sài Gòn là một thành phố bị đổi tên nhiều lần, tuỳ thuộc ai đến đây và làm vua làm chúa ở đây.

Trước khi người Việt Nam đến, người Miên gọi vùng này là Prey Nokor. Theo tiếng Khmer từ này có nghĩa là “Forest City” thành phố trong rừng, hay Vương Quốc trong rừng. Prey có nghĩa là rừng và Nokor có nghĩa là đất nước. Ở đây ngày xưa có nhiều cây bây giờ còn lại vài cây ở đền thờ Cây Mai (Cây Mai Temple).

Khi Nguyễn Hữu Cảnh được Vua nhà Nguyễn gởi đến đây chiếm vùng này làm thuộc địa, ông đã đặt tên vùng này là Gia Định. Khi người Pháp đến họ đặt tên vùng này là Sài Gòn vào năm 1860. Tên nầy sống mấy trăm năm đến khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn và đổi tên thành Hồ Chí Minh như đã nói.

Cộng Sản nói họ đã “giải phóng” Sài Gòn. Giống như Cộng Sản Nga đã từng làm với thành phố mang tên Stalin (Stalingrad) hay Lenin (Leningrad), Cộng Sản Việt Nam thay tên Sài Gòn thành Hồ Chí Minh. Về điểm này Mao Trạch Đông khá hơn, không đổi tên Bắc Kinh thành thành phố Mao Trạch Đông.

Mấy chục năm sau khi chuyện này xảy ra, một lãnh tụ Cộng Sản đã nói một câu xúc động lòng người: Ngày 30 tháng Tư có triệu người vui và triệu người buồn.

Những người vui nói họ giải phóng Sài Gòn. Họ là những người hưởng tất cả tài sản của người miền Nam, đổi tiền đổi bạc, lấy nhà cửa của dân ở đây, chiếm đất đai, lấy hết tài sản người dân ở đây tích luỹ nhiều đời.

Còn triệu người buồn? Họ nói Cộng Sản đã chiếm chánh quyền bằng vỏ lực, chỉ muốn cướp của của họ. Họ đã liều mạng bỏ nước ra đi, tạo ra phong trào thuyền nhân chấn động dư luận thế giới.

Sự thật ra sao? Lịch sử có bổn phận rọi ánh sáng cho chúng ta biết. Thú thật tôi không tin những gì Cộng Sản nói. Sau 41 năm Cộng Sản đánh tư sản, ngày nay giới giàu có ở Sài Gòn lại là con cháu của mấy ông Cộng Sản. Ở Sài Gòn ngày nay, những chức vụ chỉ huy đều do người miền Bắc nắm giữ. Những chủ khách sạn lớn, những cơ sở làm ăn lớn, đều do họ nắm.

Sài Gòn ngày nay là một thế lực kinh tế đáng kể. Dựa theo dữ kiện thống kê của năm 2005, Thành phố này chỉ chiếm 0.6% diện tích đất của nước Việt Nam, dân số ở đây chỉ chiếm 8.34% dân số nước Việt Nam, thế nhưng GDP của nó chiếm 20.2%, tổng sản lượng công nghệ (Industrial output) chiếm 27.9%, và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lên đến 34.9%. Theo thống kê năm 2009, lợi tức trung bình tính theo đầu người của người dân Sài Gòn là $2,800 đô la một năm, so với mức trung bình cả nước là $1,042. Năm 2007 Sài Gòn đóng góp hơn 30% cho ngân sách quốc gia.

Cùng với một vài tỉnh miền Đông Sài Gòn đóng góp hơn 2/3 số thu ngân sách hàng năm của nước Việt Nam. Chỉ riêng lực lượng Việt Kiểu của thành phố này cũng gởi về nước hơn 10 tỷ đô la hàng năm, hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới giúp đỡ Việt Nam, kể cả Trung Quốc hay Nga Sô. (Sẽ bổ túc sau)

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hà Nội: Hồ Tây

Hồ Tây là một hồ nước ngọt nằm ngay trung tâm Hà Nội. Nó còn được biết đến với nhiều tên khác như: Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm và Đoài Hồ. Với chiều dài bờ hồ khoảng 18 cây số, nó là hồ lớn nhất thủ đô Hà Nội. Trong tương lai gần, người ta dự định biến khu vực này thành trung tâm thành phố Hà Nội, thay thế vị trí hiện nay là Hồ Hoàn Kiếm.

Hồ Tây rộng 500 ha. Đây là một đoạn của sông Hồng ngày xưa. Đường Cổ Ngư xưa (nay là Thanh Niên) đã cắt một phần của hồ này, thành hồ Trúc Bạch. Một quận ở thủ đô Hà Nội lấy tên hồ này, đó là quận Hồ Tây.

Khu Hồ Tây đẹp nổi tiếng. Ngày xưa đây là nơi du ngoạn của Vua Chúa. Trong khu này có nhiều di tích lịch sử. Wikipedia tiếng Việt kể như sau: “Từ thời Lý-Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thuý Hoa đời nhà Lý, tức điện Hàm Nguyên đời nhà Trần nay là khu chùa Trấn Quốc; cung Từ Hoa đời nhà Lý nay là khu chùa Kim Liên; điện Thuỵ Chương đời nhà Lê nay là khu Trường Chu Văn An…” (Wikipedia).

Ngày xưa Hồ Tây có tên là Đầm Xác Cáo. Các bạn biết tại sao không? Theo một truyền thuyết, ngày xưa ở đây có một con Hồ Ly Tinh sanh sống. Nó là Hồ Ly Tinh 9 đuôi, đã sống cả ngàn năm. Nó phá hoại dân lành. Long Quân đã dâng nước lên giết nó. Vì đây là động Hồ Ly Tinh nay bị ngập nước chết, nên người ta đặt tên hồ này là Đầm Xác Cáo. Ngày nay con đường chạy dọc phía Tây hồ này được đặt tên Lạc Long Quân.

Hồ Tây ở Hà Nội rất đẹp, sáng sáng sương mù phủ lấy mặt hồ, thơ mộng lắm. Khi Vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đây là nơi du ngoạn của Vua và quần thần. Lúc đó hồ này nhiều suong mù nên được đặt tên là hồ Dâm Đàm(nhiều sương mù).

Năm 1573 để tránh tên húy của Vua Lê Thái Tông là Duy Đàm, người ta đã đổi tên hồ này thành Hồ Tây. Tên nầy sống đến ngày nay. Tại sao Hồ Tây? Wikipedia tiếng Việt giải thích việc đặt tên địa danh và sông hồ ở Việt Nam thường bắt chước Trung Quốc. Họ có Tây Hồ. Tên nầy viết theo chữ Hán đọc lại là Hồ Tây.

Nhiều vua chúa sau nầy đổi tên Hồ Tây thành Đoài Hồ, Diêm Hồ và Liêm Đàm. Tuy nhiên dân chúng thích tên Hồ Tây hơn, nên tên nầy sống mãi đến ngày hôm nay. 40 năm sau khi thành phố Sài Gòn bị Cộng Sản đổi tên thành Hồ Chí Minh, tên Sài Gòn vẫn chưa chết. Không biết có sống mãi trong lòng người dân ở đây, như Hồ Tây đối với người Hà Nội không?

Trước đây, vợ chồng tôi có viếng Tây Hồ ở Trung Quốc. Hướng dẫn viên du lịch kể lại câu chuyện thần kỳ về sự tích hai hồ: Hồ Tây ở Hà Nội và Tây Hồ ở Hàng Châu.

Ngày xưa trên trời có nàng tiên nữ vô tình làm rớt hai hột ngọc xuống trần gian, một hột nhỏ rơi xuống nước Việt Nam tạo nên Hồ Tây, và một hột lớn hơn rơi xuống Trung Quốc tạo nên Tây Hồ.

Lúc ra Hà Nội tham quan Hồ Tây, hướng dẫn viên du lịch Việt Nam không nhắc đến câu chuyện truyền kỳ này về phía Trung Quốc, nhưng lại nhắc đến câu chuyện Không Lộ có biệt tài gạt được người phương Bắc lấy hết đồng đen của họ đem về Hà Nội đúc chuông. Khi chuông đánh lên vang rền tới tận phương Bắc, trâu vàng nghe tiếng chuông chạy về nước ta, rồi nhảy xuống khu hồ tây này, do đó Hồ Tây còn được Việt Nam gọi là hồ Trâu Vàng.

Nghe hướng dẫn viên du lịch kể chuyện truyền ký vô tình nói lên những khát khao thầm kín của dân tộc hai bên, nghĩ cũng vui vui. Dưới mắt hướng dẫn viên du lịch Trung Quốc, cái gì nhỏ là của Việt Nam. Nhưng đó chỉ là những câu chuyện truyền kỳ mà thôi.

Đến Hà Nội kỷ niệm 50 năm ngày cưới, vợ chồng tôi rất thích khu vực đường Cổ Ngư và Hồ Tây, vì có nhiều di tích lịch sử. Trong entry nầy, xin chia sẻ với các bạn một vài hình ảnh chụp tại Hồ Tây mấy năm trước. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Du lịch Cần Thơ

Cần Thơ là thành phố lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long, và lớn hang 4 ở Việt Nam. Nó được biệt danh là “Tây Đô” (Western Capital), thủ đô của miền Tây. Nó nằm trên bờ phía Nam của sông Hậu, cách thành phố Sài Gòn khoảng 169 cây số. Lần nào về thăm quê hương, vợ chồng tôi cũng đến đây vài lần. Thời tuổi trẻ tôi đã dạy tại Đại Học Sư Phạm ở đây với tư cách Giáo Sư Thỉnh Giảng, trước khi đi Mỹ lập nghiệp.

Giống như Sài Gòn, khí hậu ở đây là nhiệt đới gió mùa, không có mùa lạnh, chỉ có hai mùa nắng và mưa. Nó cũng có biệt danh “Đô Thị Miền Sông Nước” do hệ thống sông nước chằng chịt ở đây đẹp và đặc biệt.

Các bạn còn nhớ câu ca dao này về Cần Thơ không? Cần Thơ là Tây Đô, thủ đô của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nổi tiếng là vựa lúa của nước Việt Nam. Vùng nầy sản xuất hơn phân nửa số gạo của quê hương. Nhờ đó mới có câu ca dao này:

Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Ai đi đến đó lòng không muốn về.

Những diễm đến du lịch nổi tiếng của Cần Thơ là bến Ninh Kiều, Chợ Nổi Cái Răng, các làng du lịch sinh thái, làng làm bánh tráng, và đặc biệt các sông rạch chằng chịt rất đẹp và thơ mộng. Lần nào về thăm lại quê hương vợ chồng tôi cũng đến đây vài lần.

Hiện nay Cần Thơ là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung Ương của Việt Nam, tương đương với một Tỉnh. Nó là tỉnh ly của tỉnh Hậu Giang. Nó là đô thị loại I thuộc vùng kinh tế trọng điếm đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng kinh tế trọng điểm thứ 4 của Việt Nam.

Năm 1739 vùng đất Cần Thơ được khai phá, và đặt tên Trấn Giang. Thời nhà Nguyễn nó được biết đến với tên tỉnh An Giang. Thời Pháp thuộc Cần Thơ được tách ra thành tỉnh, với thành phố Cần Thơ là Tây Đô. Thời Việt Nam Cộng Hòa, tỉnh này đổi tên thành Phong Dinh.

Sáu năm 1975, tỉnh nầy hợp với các tỉnh Ba Xuyên và Chương Thiện thành tỉnh Hậu Giang, với thành phố Cần Thơ là tỉnh ly. Cuối năm 1991, tỉnh Hậu Giang được chia thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, với thành phố Cần Thơ là tỉnh ly của tỉnh Cần Thơ. Từ năm 2003 đến nay, thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung Ương, và tỉnh Cần Thơ đuợc đổi tên thành tỉnh Hậu Giang.

“Theo quy hoạch đến năm 2025, thành phố Cần Thơ sẽ trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại – dịch vụ, giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ, y tế và văn hoá của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời là đô thị cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mêkông, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh.” (Wikipedia)

Các bạn có biết tên Cần Thơ do đâu mà có không? Có nhiều giải thích về nguồn gốc tên này. Theo một truyền thuyết ngày xưa lúc chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu trốn quân Tây Sơn, có lần ông đi thuyền trên sông Hậu ở đây. Trong đêm vắng, ông nghe tiếng ngâm thơ, hò hát xa xa trên sông. Ông thích quá đặt tên sông này là “Cầm Thi Giang”. Từ nầy đọc trại thành Cần Thơ.

Theo một giải thích khác, ngày xưa ở đây có trồng nhiều rau cần và rau thơm. Khi chèo ghe đi bán, người ta thường rao : “Ai mua rau cần thơm không?” Cần thơm được đọc trại thành Cần Thơ. Wikipedia có trích mấy câu ca dao sau đây về rau cần và rau thơm ở Cần Thơ:

” Rau cần rau thơm xanh mướt
Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn
Rau cần lại với rau thơm
Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều”

Theo một giải thích khác, ngày xưa vùng đất này của người Khmer. Trong ngôn ngữ của họ có chữ “kintho”. Đây là một loại cá rất phổ biến ở sông rạch Cần Thơ. Cá này được người mình gọi là cá sặc rằng. Người Việt mình đọc chữ “kintho” thành Cần Thơ. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Lạt: Chinh phục đỉnh Langbiang

Núi Langbiang có 3 đỉnh, hai đỉnh ở hai ngọn núi (Núi Ông và Núi Bà) nằm cách Đà Lạt khoảng 12 cây số (km), thuộc huyện Lạc Dương. Núi Ông cao 2,114 thước (m) và núi Bà cao 2,167 thước (m). Ngoài hai ngọn núi Ông và Bà, ở đây còn một đỉnh thứ ba tên đồi Ra-đa cao 1.929 thước (m). Vừa rồi đi Đà Lạt vợ chồng tôi đã chinh phục đồi này, cảnh vật Suối Vàng và Bạc, cũng như thành phố Đà Lạt nhìn xa xa dưới chân núi rất đẹp.

Wikipedia tiếng Việt kể lại huyền thoại về cuộc tình của đôi trai tài gái sắc đã yêu nhau và chết ở đây. Chàng tên Lang và Nàng tên Biang. Huyền thoại vệ cặp tình nhân muôn thuở này đã giải thích nguồn gốc của tên núi Langbiang.

“Ngày xưa tại vùng núi này, có người con trai tên Lang, tù trưởng bộ tộc Lát, thương người con gái tên Biang, con gái tù trưởng bộ tộc Chil. Do khác bộ tộc nên nàng Biang không cưới được chàng Lang, vì vậy hai người đành lấy cái chết để giữ trọn tình và phản đối luật tục khắt khe.

Khi Lang và Biang mất, cha của Biang hối hận đã thống nhất các bộ tộc người Lát, Chil, Sré…thành chung một dân tộc K’Ho. Từ đó thanh niên nam nữ các bộ tộc dễ dàng yêu nhau, cưới nhau. Mộ hai người dần trở thành hai ngọn núi cao nằm cạnh nhau và dân làng đặt tên cho ngọn núi này là núi LangBiang.” (Wikipedia)

Ngay dưới chân núi có thung lũng trăm năm. Các bạn biết tại sao có tên này không? Theo hướng dẫn viên du lịch, dưới chân núi có thung lũng khá lớn nơi tổ chức thành công lễ hội trăm năm phát triển thành phố Đà Lạt. Do đó thung lũng này được đặt tên thung lũng trăm năm.

Dưới chân núi có nhà hàng, quán ăn, vả tiệm bán đồ lưu niệm. Đặc biệt ở đây có dịch vụ đưa du khách lên đỉnh Langbiang bằng xe Jeep, rất tiện lợi. Xe đưa chúng tôi từ dưới núi lên tận đỉnh, chỉ trong vòng 10 phút.

“Tại đỉnh đồi Ra-đa, có các dịch vụ như nhà hàng, quán cà phê và các dịch vụ khác như: ống nhòm nhìn thành phố Đà Lạt từ trên cao, cưỡi ngựa chụp hình. Đặc biệt, trên đỉnh đồi còn có vườn hoa, tượng chàng K’lang và nàng Hơbiang, khu bán hàng lưu niệm,…

Từ trên đỉnh đồi Ra-đa, du khách có thể nhìn thấy Suối Vàng và Suối Bạc và toàn cảnh Đà Lạt trên cao với những màn sương mù bay phất phơ trước mặt làm bạn cứ ngỡ như là đang ở trên mây.” (Wikipedia) (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phú Quốc: Bãi Sao

Bãi Sao là bãi biển đẹp nhất Phú Quốc. Bãi Sao nằm cách thị trấn Dương Đông khoảng 25 cây số (km) đường bộ. Bãi biển này rất đẹp, cát trắng mịn, nước biển xanh lơ màu ngọc bích, đẹp không thể tưởng. Vừa rồi vợ chồng tôi có đến đây ăn cơm trưa, và tắm biển, cuộc đời đáng sống thật. Bãi biển nầy đẹp và thơ mộng, có một sức quyến rủ lạ lùng.

Các bạn có biết tại sao người ta gọi bãi biển này là Bãi Sao không? Theo người dân ở đây kể lại, trước đây lúc màn đêm buông xuống, ở đây có nhiều sao biển đến tràn ngập bãi này, nên được gọi là Bãi Sao.

Mùa này ở đây nhiều người Nga. Người Mỹ, có nhóm 7 Việt Kiều từ Mỹ trở về thăm lại quê hương. Không thấy Mỹ trắng và Mỹ đen. Trong tương lai ở đây sẽ có nhiều người Trung Quốc đến thăm viếng, khi chúng ta có đường bay thẳng từ Trung Quốc đến đây.

Hiện phi trường quốc tế ở đây có vẻ rộn rịp với những chuyến bay thẳng từ Hà Nội, Sài Gòn, Cần Thơ, Singapore và Campuchia. Trước đây có những chuyến bay thẳng từ Nga đến đây, nhưng nghe nói những chuyến này đã chấm dứt.

Phú Quốc ngày nay đang trên đà phát triển mạnh. Tuy nhiên Bãi Sao vẫn còn giữ vẻ quyến rũ thô sơ, chưa kỹ nghệ hóa nhiều. Thiên nhiên ở đây vẫn còn đẹp. (Sẽ bổ túc sau).

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Huế: Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng ở Huế còn được biết đến với tên Hiếu Lăng. Vì vua Minh Mạng qua đời trước khi xây cất Lăng xong, nên Lăng Minh Mạng do Vua Thiệu Trị điều động 10,000 lính và thợ tiếp tục xây cất từ năm 1841 đến 1843 mới xong. Lăng Minh Mạng là một trong nhiều kiến trúc ở Huế được UNESCO nhìn nhận là di sản văn hóa thế giới.

Vua Minh Mạng là một trong những Vua trung thành với đạo Khổng cuối cùng của nước Việt Nam. Triều đại của ông cho thấy quyền uy của Vua Việt Nam lên đến tuyệt đỉnh. Sau ông, đất nước dần dần bị suy sụp, và rốt cuộc bị ngoại bang đô hộ. Ông là người Vua cuối cùng giữ vững được sự độc lập quốc gia của Việt Nam.

Thời của ông, Huế là thủ đô nước Việt Nam. Chính ông là người đã đặt tên thành phố Thăng Long thành Hà Nội, và tên nầy sống đến ngày nay. Có lúc tôi tự hỏi, ngày làm lễ mừng Hà Nội (Thăng Long) được 1,000 năm tuổi, có ai cảm ơn Vua Minh Mạng đã đặt tên thành phố này là Hà Nội không?

Minh Mạng còn được biết đến với tên Nguyễn Thánh Tổ. Ông là Hoàng Đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trị vì từ năm 1820 đến 1840. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên là Nguyễn Phúc Kiểu. Ông là con thứ hai của Vua Gia Long. Nhờ con lớn của Vua là Hoàng Thái Tử Nguyễn Hữu Cảnh qua đời sớm vào năm 1801, cộng thêm yếu tố ông chống Pháp và đạo Công Giáo, giống như Vua Gia Long, nên được Vua chọn truyền ngôi.

Chánh sách bảo thủ chống Tây Phương, chọn triều cống Vua Tàu hơn là mở cửa buôn bán với Tây Phương như Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật, có lợi cho nước Việt Nam trong ngắn hạn, nhưng thiếu tầm nhìn. Chánh sách này được tiếp tục với Tự Đức đưa tới mất nước, Việt Nam bị Tây đô hộ cả trăm năm.

Thời Minh Mạng nhà Thanh bên Tàu cũng suy yếu, nên việc triều cống chỉ có tánh cách tượng trưng. Bốn năm một lần Minh Mạng mới cử phái đoàn qua Tàu triều cống. Tuy nhiên đối với Tây Phuơng Minh Mạng rất cứng rắn.

Ông coi phương Tây như người man rợ, quân xâm lược. Khi Pháp đề nghị ký hiệp ước giao thương, ông từ chối. Pháp đề nghị bang giao, ông cũng từ chối không chấp nhận có quan hệ ngoại giao với Pháp.

Khi Hoa Kỳ đến Á Châu đề nghị mở rộng bang giao, Việt Nam là nước đầu tiên người Mỹ muốn có quan hệ ngoại giao. Những năm 1832-1836, Tổng Thống Andrew Jackson gởi sứ thần đến nước Đại Nam (tức là Việt Nam chúng ta), Minh Mạng cũng từ chối bang giao. Chánh sách theo Tàu chống Tây Phương thật tai hại. Trong lúc Nhật mở cửa bang giao với Mỹ trở thành cường quốc thế giới, Việt Nam phải chậm tiến bị Tây đô hộ suốt trăm năm.

Lăng Minh Mạng không rộng lớn bằng Lăng Tự Đức, nhưng qui mô và đồ sộ hơn Lăng Khải Định. Những kiến trúc trong Lăng được sắp xếp trên một trục duy nhất, khác với Lăng Tự Đức được xếp thành hai trục.

Lăng Minh Mạng cho thấy sự phối hợp hài hòa giữa phong cảnh và các kiến trúc, độc đáo hơn các lăng tẩm khác tại Huế. Lăng Minh Mạng có tổng cộng 40 kiến trúc được sắp xếp dọc theo một con đường duy nhất chạy giữa miếng đất rộng 40 mẫu Anh. Lăng Tự Đức có hai trục, một cho khu Cung Điện Vua lúc còn sống, và trục thứ hai cho khu Lăng Mộ.

Cửa ra vào Lăng được gọi là Đại Hồng Môn. Cửa này được chia thành 3 cửa. Cửa giữa được dành riêng để đem quan tài của Vua vô Lăng. Cửa chỉ mở một lần, sau đó bị đóng lại vĩnh viễn. Gia đình và triều thần phải đi vô hai cửa nhỏ bên hông.

Sau Đại Hồng Môn là Bái Đình hai bên có hai hàng quan văn vỏ, với ngựa bằng đá đứng chầu. Cuối Bái Đình là Bi Đình bên trong có bia “Thành Đức Thần Công” của Vua Thiệu Trị ghi lại công đức của Vua cha. (Sẽ bổ túc sau)

“… Lăng Minh Mạng có bố cục kiến trúc cân bằng đối xứng, xung quanh một trục kiến trúc là đường thần đạo, xuyên qua một loạt các hạng mục công trình gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức môn, điện Sùng Ân (thờ vua Minh Mạng và Hoàng hậu), hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt (trăng non), cổng tam quan Quang Minh Chính Trực, Trung Đạo kiều và cuối cùng là Bửu thành (mộ vua Minh Mạng)…” (Wikipedia) (Sẽ bổ túc sau).

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Lạt: Tham quan Vườn dâu Đà Lạt

Mấy năm trước đến Đà Lạt vợ chồng tôi đã thăm viếng Vườn trồng dâu Tây và Artiso ở đây. Thay vì đi hái dâu, vợ chồng tôi được hướng dẫn thăm viếng một vườn mẫu, có tánh cách trình diễn, được giải thích phương pháp trồng dâu (strawberry), sau đó thưởng thức trà Artiso, và nhiều sản phẩm mứt ở đây, đặc biệt lắm.

“…Dâu tây xuất xứ từ châu Mỹ và được các nhà làm vườn châu Âu cho lai tạo vào thế kỷ 18 để tạo nên giống dâu tây được trồng rộng rãi hiện nay. Loài này được (Weston) Duchesne miêu tả khoa học đầu tiên năm 1788.

Dâu tây được trồng lấy trái ở vùng ôn đới. Với mùi thơm hấp dẫn cùng vị dâu ngọt lẫn chua nên dâu tây được ưa chuộng.

Ở Việt Nam, khí hậu mát mẻ của miền núi Đà Lạt là môi trường thích hợp với việc canh tác dâu nên loại trái cây này được xem là đặc sản của vùng cao nguyên nơi đây.

Quả dâu tây thường được sử dụng để làm các món tráng miệng. Dâu tây giàu vitamin C và là nguồn cung cấp dồi dào các chất flavonoit cần thiết cho cơ thể…” (Wikipedia tiếng Việt)

“…Đặc điểm của dâu tây Đà Lạt

-Dâu tây có hơn 20 loài, nhưng chủ yếu là dâu tây đỏ,khi chín có màu phớt hồng đẹp mắt,vỏ mỏng ( gần như không đáng kể ) cùi thịt dày,mọng nước,hạt nhỏ như hạt vừng có thể ăn được.Mùi hương thơm mát,dịu nhẹ nhưng cuốn hút.

-Dâu tây Đà Lạt thích hợp với loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất giữ ẩm nhưng thoát nước tốt độ pH từ 6-7.

-Khí hậu ôn đới thích hợp cho cây dâu tây Đà Lạt sinh trưởng và phát triển với nhiệt độ từ 18 – 25°C và tốt nhất nên trồng ở nơi nào chỉ có nắng trực tiếp nửa ngày. Vì thế dâu tây rất được ưa chuộng trồng trong chậu treo để ban công.

… Công dụng của dâu tây

Dù sử dụng dưới bất kì hình thức nào thì dâu tây Đà Lạt vẫn mang lại những lợi ích không ngờ cho sức khỏe:

-Dâu tây là nguồn cung cấp vitamin C cực kì dồi dào 3 quả dâu tay chứa 52mg Vitamin C đáp ứng 1/2 nhu cầu cơ thể trong ngày vừa chống oxi hóa tốt lại tăng cường hệ miễn dịch,ngăn ngừa bệnh đục thủy tinh thể,bảo vệ mắt ,ngăn ngừa nếp nhăn , làn da tươi trẻ

-Trong dâu tây Đà Lạt còn chứa nhiều Axit ellagic – một chất hóa học thiên nhiên đã được chứng minh là có công dụng chống ung thư bằng cách chế ngự sự phát triển các tế bào ung thư.

-Theo nghiên cứu Axit ellagic và các flavonoid có trong dâu tây làm giảm lượng cholesterol có hại,ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ.Ngoài ra kali có trong dâu tây giúp điều hòa huyết áp,ổn định nhịp tim.

-Lượng chất sơ có trong dâu tây Đà Lạt vừa hỗ trợ tiêu hóa lại có tác dụng giảm cân rõ rệt.3 quả dâu chỉ chứa 28kcal,không chất béo,lượng đường thấp,natri không đáng kể…” (http://cleverfood.com.vn/dau-tay-da-lat-6694078.html) (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Miền Bắc: Kỷ niệm thăm viếng Sapa

Tiếp tục hành trình tìm hiểu quê hương nơi tôi sanh, mười mấy năm trước sau khi Tổng thống Clinton bỏ lệnh cấm vận, vợ chồng tôi về thăm lại quê hương nhiều lần, có lần thăm viếng Sapa, tận vùng biên giới với Trung Quốc. Mười mấy năm trước ở đây còn hoang vu, thiên nhiên sạch và đẹp kinh khủng. Bây giờ ở đây đô thị hóa hơi nhiều, mất đi phần nào sự quyến rũ ngày xưa.

Thời đổi mới, Sapa vui lắm. Một đêm mùa hè trời hơi lạnh, cả đoàn du lịch văn nghệ karaoke với nhau, tôi trình bày bản 60 cuộc đời, cả đoàn vỗ tay vui vẻ, kỷ niệm nhớ đời. Đêm hôm đó tôi nhận thấy đằng sau những khác biệt, có một cái gì đó, một sợi dây vô hình nào đó trói buột chúng ta, tình người Việt Nam với nhau, mặc dầu chánh trị ngăn cấm, và chia rẽ lòng người.

Sapa (hay Sa Pa) là một thành phố biên giới và là quận lỵ của quận Sapa tỉnh Lào Cai, vùng Tây-Bắc Việt Nam. Nó nằm ở độ cao 1,500 thước trên mực nước biển, trên dãy núi Hoàng Liên Sơn, nổi tiếng như là dãy núi Alps của Việt Nam. Mấy năm trước về thăm lại quê hương, vợ chồng tôi đã đến đây thăm viếng. Từ Hà Nội chúng tôi đi xe lửa suốt đêm tới Lào Cai, từ đó lấy xe bus đi về Sapa.

Cảnh vật núi và đồng ruộng ở đây đẹp tuyệt vời. Ruộng bậc thang Sapa là một trong 7 ruộng bậc thang kỳ vĩ nhất Á Châu, và thế giới. Thác Bạc ở đây đẹp nỗi tiếng, cao 200 thước. Cổng Trời là nơi các bạn có thể đến để ngắm nhìn đỉnh Fansipan cao nhất nước. Hàm Rồng có nhiều vườn hoa rất đẹp, đặc biệt hoa lan.

Năm 1979 khi quân đội Trung Quốc vượt biên giới dạy Việt Nam một bài học, theo lời Đặng Tiểu Bình, người Việt Nam đã bỏ quận lỵ Sapa đi hết, sau chiến tranh mới dám trở về.

Đây là nơi sanh sống của người thiểu số H’Mông, Dao đỏ, Tây, Giáy và Pho Lu. Người Kinh (Việt Nam) chỉ mới đến sau này thôi. Người Hoa chỉ là một thiếu số không đáng kể. Người Pháp đã tới đây vào năm 1880, và quyết định xây dựng thành phố nghĩ dưỡng cho Pháp ở đây. Đây là thành phố có nhiều kiến trúc của Pháp, quyến rũ và thơ mộng.

Tên Sapa (hay Cha Pa) phát xuất từ tiếng Quan Thoại Xa Pa, có nghĩa là bãi cát. Đây là bãi cát nơi người địa phương hợp chợ ngày xưa. Lịch sử cho thấy nhờ người Pháp đổ bộ lên Bắc Kỳ, và đến vùng đất này, mà ngày nay Việt Nam có Sapa. Nói hơi quá, nhưng có lúc tôi tự hỏi nếu những năm 1880 người Pháp không đến đây, không biết bây giờ chúng ta có được vùng đất biên giới này không.

Sapa nằm cách Hà Nội 380 cây số về phía Tây-Bắc, gần biên giới với Trung Quốc. Nó nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn, điểm cực Đông của dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya). Đây là dãy núi cao nhất Việt Nam.

Những ngày đẹp trời, đứng trên đỉnh Hàm Rồng các bạn có thể thấy đỉnh Fan Si Pan xa xa. Thành phố Sapa nằm ở độ cao 1,500 thước trên mực nước biển. Đỉnh Fan Si Pan là đỉnh cao nhất nước Việt Nam, cao khoảng 3.143 thước.

Quận Sapa có khoảng trên 36,000 người đa số là người thiểu số. Người Kinh (Việt Nam) chiếm 15% dân số, người Hmong chiếm 52%, người Dao 25%, người Tây 5%, người Giáy 2%. Trong số này tại quận ly Sapa chỉ có 7,000 người sanh sống. (Sẽ bổ túc sau).

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hà Nội: Chùa Trấn Quốc

Tiếp tục hành trình tìm hiểu quê hương nơi tôi sanh, vợ chồng tôi thăm viếng Hà Nội gần 10 năm trước. Ở đây còn nhiều di tích lịch sử. Chùa Trấn Quốc là một ngôi chùa Phật Giáo nằm trên một đảo nhỏ phía Đông Nam hồ Tây Hà Nội. Đây là chùa lâu đời nhất thủ đô. Chùa được xây cất vào thế kỷ thứ 6 dưới thời Vua Lý Nam Đế, gần 1500 năm trước.

Lúc ban đầu chùa có tên Khai Quốc, nhưng sau đó được sửa lại là An Quốc, Trấn Quốc và Trấn Bắc. Chùa được công nhận là Di Sản Lịch Sử Văn Hóa cấp quốc gia vào năm 1989. Mấy năm trước vợ chồng tôi ra Hà Nội kỷ niệm 50 năm ngày cưới, và đã thăm viếng chùa nầy.

Chùa Khai Quốc được Vua Lý Nam Đế xây cất những năm 544-548. Đến đời vua Lê Thái Tông chùa này được đổi tên là chùa An Quốc. Năm 1615 dưới đời vua Lê Trung Hưng, chùa được dời về địa điểm bây giờ ở Hồ Tây.

Nhiều nhân vật quan trọng đã thăm viếng chùa này như Thái Hậu Ỷ Lan thời Vua Lý Nhân Tông, Chúa Trịnh, Vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Đặc biệt nhất là Tổng Thống Ấn Độ Rajendra Prasad năm 1959, Tổng Thống Ấn Độ Pratibha Patil năm 2008 và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev năm 2010.

Tổng Thống Ấn Độ Rajendra Prasad đã tặng chùa một món quà rất đặc biệt nhiều ý nghĩa đối với Phật tử. Đó là nhánh cây bổ đề chiết tự cây bồ đề nguyên thủy. Đức Phật từng ngồi và giác ngộ dưới cây bổ để nguyên thủy nầy, tên Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Cây bổ để nguyên thủy này nằm ở thành phố Gaya ở quận Gaya Ấn Độ, nơi ngôi Chùa ở đây được UNESCO nhìn nhận là Di Sản Thế Giới.

Vào năm 1615 dưới thời Vua Lê Trung Hưng chùa được dời về trong đê Yên Phụ. Chùa được xây cất trên đảo nhỏ tên Kim Ngư trong Hồ Tây. Người ta cũng xây một con đường đắp cao nối liền Hà Nội và đảo này. Chùa được sửa chữa nhiều lần từ đó đến nay, lần sửa chữa quan trọng nhất xảy ra vào năm 1815.

Thời nhà Nguyễn Chùa được trùng tu và sửa chữa nhiều. Năm 1821 Vua Minh Mạng đã đến thăm chùa và tặng chùa 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842 Vua Thiệu Trị cũng đến đây thăm viếng, và tặng chùa 1 đồng tiền vàng và 200 quan tiền.

Đặc biệt Vua Thiệu Trị đã đổi tên chùa thành Trấn Bắc. Tuy nhiên dân chúng ở đây quen gọi tên chùa là Trần Quốc từ thời Vua Lê Hy Tông (1663–1716) nên vẫn gọi đây là chùa Trấn Quốc. Giống như thành phố Sài Gòn bị đổi tên 43 năm nay, nhưng trong thực tế thường ngày dân chúng vẫn gọi đó là Sài Gòn, thay vì Hồ Chí Minh. (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đà Lạt: Thung lũng Vàng

Thung lũng Vàng nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 15 cây số (km) về phía Tây Bắc, ở độ cao trung bình từ 1,400 đến 1,500 thước (m). Thung lũng này vừa được khai thác du lịch, nhưng được du khách cảm tình đến rất đông. Ở đây thiên nhiên còn nguyên sơ, cảnh vật đẹp lắm.

Diện tích khu nầy khoảng 20 ha nằm bên cạnh hồ Dankia – Suối Vàng, giữa rừng thông bạt ngàn, rất đẹp. Mấy năm trước về thăm lại quê hương vợ chồng tôi đã đến đây. Xin chia sẻ với các bạn vài hình ảnh.

Website của HanoiTourism có mô tả khu du lịch Suối Vàng như sau: “Tên Suối Vàng nghe thật đặc biệt, có lẽ dòng nước của con suối này có nhiều vàng sa khoáng nên nó có tên như vậy chăng?

Suối Vàng gồm 2 hồ lớn là hồ Ankroet ở phía dưới và hồ Dankia ở phía trên. Xa xa là những đồi thông xanh chạy dài đến chân núi Langbiang Đà Lạt, nơi có nhiều cư dân đồng bào người Lát sinh sống.

Năm 1943, nơi đây tự hào khi nhà máy thuỷ điện Ankroet được xem là công trình thuỷ điện đầu tiên của cả nước. Đáng nói hơn cả, nơi đây có nhà máy lọc nước rất hiện đại, cung cấp 20 triệu mét khối nước mỗi năm cho dân cư Đà Lạt phục vụ nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu.” (Sẽ bổ túc sau)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?